Leonard Bernstein được đánh giá là một trong những nhạc trưởng vĩ đại nhất của thế kỉ 20. Bên cạnh đó, ông còn là một nhà soạn nhạc và một nghệ sĩ piano tài năng. Là chỉ huy chính của New York Philharmonic, Bernstein là nhạc trưởng người Mĩ đầu tiên được công nhận tài năng trên phạm vi toàn thế giới. Và với các tác phẩm West Side Story, Candide  On the Town, ông được coi là cây cầu nối giữa hai thể loại nhạc: cổ điển và đại chúng.

Trong sự nghiệp của Bernstein, ông từng làm giám đốc âm nhạc của New York Philharmonic. Các tác phẩm của ông hầu hết được ghi âm tại hãng Columbia/ CBS Masterwork nơi giờ đây là hãng âm thanh nổi tiếng Sony Classical. Phần lớn các di sản âm nhạc của hãng có hình bóng của nhà soạn nhạc và nhạc trưởng Bernstein, các tác phẩm vẫn đang ngày ngày được remaster và được tổng hợp thành một chuỗi các tác phẩm cổ điển của hãng với tên gọi Bernstein Century. Ngoài ra một hãng thu âm khác cũng có sự công tác chặt chẽ với Bernstein là Deutsche Grammophon. Ông đã thu hơn 100 đĩa nhạc tại đây.

Bernstein sinh ngày 25 tháng 8 năm 1918 tại Lawrence, bang Massachusetts trong một gia đình Do Thái nhập cư đến từ Rovno, Ukraine. Bà của cậu bé khăng khăng đòi đặt tên cậu là Louis nhưng cha mẹ cậu thì luôn gọi cậu là Leonard và họ tỏ ra thích cái tên này hơn. Tuy nhiên phải đến năm 16 tuổi thì cậu bé mới chính thức đổi tên thành Leonard. Bố của Leonard là một thương gia và thường xuyên dẫn cậu đi xem hòa nhạc. Trong một buổi biểu diễn có sự xuất hiện của cây đàn piano, cậu bé đã tỏ ra rất thích thú cây đàn và muốn mình được học đàn. Lúc này thì Leonard đang theo học tại trường Garrison và Boston Latin và cha cậu rất tức giận khi một hôm thấy cậu bé đang học đàn, ông kiên quyết không trả học phí cho cậu. Tuy nhiên, chính Leonard đã kiếm tiền để trả cho thầy giáo bằng cách dạy lại những đứa trẻ khác.

Tốt nghiệp Boston Latin vào năm 1935, Leonard theo học tại Đại học danh tiếng Harvard với Walter Piston, Edward Burlingame-Hill và A. Tillman Merritt sau đó là trường Curtis Institute of Music nơi mà cậu là người duy nhất được Fritz Reiner cho điểm “A” trong lớp chỉ huy của mình. Tại đây, Leonard theo học piano với Isabella Vengerova và Heinrich Gebhard cũng như học phối khí với Randall Thomson. Năm 1940, ông theo một khoá học mùa hè tại Tanglewood do Boston Symphony Orchestra tổ chức và nhạc trưởng Serge Koussevitsky phụ trách. Sau này Bernstein trở thành trợ lý của Koussevitsky.

Bernstein được bổ nhiệm là nhạc trưởng chính thức vào năm 1943 với cương vị trợ lý chỉ huy dàn nhạc của New York Philharmonic. Ngày 14 tháng 11 năm 1943, tại một buổi hoà nhạc ở Carnegie Hall, ông đã thay thế Bruno Walter chỉ huy khi vị nhạc trưởng này bị ốm. Đây là buổi hoà nhạc được phát thanh rộng rãi trên Radio và ông đã nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của thính giả. Ngay sau đó các dàn nhạc khắp nơi trên thế giới đã nhận ra tài năng chỉ huy của vị khách mời này.

Vào năm 1945 ông được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc của New York City Symphony Orchestra, ông giữ chức vụ này đến năm 1947. Sau khi Serge Koussevitsky qua đời năm 1951, Bernstein được bổ nhiệm làm trưởng khoa chỉ huy và biểu diễn hoà nhạc tại trường Tanglewood và tham gia giảng dạy ở đó vài năm. Cũng trong năm 1951, vào ngày 9 tháng 9, ông cưới nữ diễn viên và nghệ sỹ piano người Chile Felicia Montealegre. Thời kỳ đầu những năm 1950 ông đã là giáo sư âm nhạc và là người đứng đầu Creative Arts Festivals trường đại học Brandeis.

Năm 1958, Berstein đã trở thành giám đốc âm nhạc của New York Philharmonic. Từ đó cho đến năm 1969, ông có được nhiều buổi hoà nhạc cùng dàn nhạc nhiều hơn bất kỳ vị nhạc trưởng nào trước đó. Sau này ông đã được trao tặng danh hiệu nhạc trưởng trọn đời.Hơn một nửa trong số 400 bản ghi âm của ông là được ông biểu diễn cùng New York Philharmonic.

Nhạc trưởng Bernstein lưu diễn khắp nơi trên thế giới. Ngay sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, năm 1946, ông đã chỉ huy tại London và trong Festival âm nhạc quốc tế tại Prague. Năm 1947, ông biểu diễn tại Tel Aviv khởi đầu cho mối quan hệ tốt đẹp với đất nước Israel cho đến tận khi ông qua đời. Năm 1953, Bernstein là nhạc trưởng Mỹ đầu tiên được chỉ huy tại Teatro alla Scala, Milan với vở Media của Luigi Cherubini cùng với Maria Callas.

Bernstein là người đứng đầu trong việc ủng hộ các nhạc sĩ người Mỹ trong đó có Aaron Copland – một người bạn rất thân của ông. Khi còn là một nghệ sỹ dương cầm trẻ tuổi, Bernstein đã từng chơi Những khúc biến tấu của Piano của Copland và ông nhanh chóng nổi danh với chính những khúc nhạc này. Bernstein lên chương trình và ghi âm lại hầu hết các tác phẩm cho dàn nhạc của Copland, nhiều tác phẩm trong số đó được biểu diễn lại tới hai lần. Ông cũng dành tặng cho Copland một số buổi trên tổng số 53 buổi trong series “Những buổi hòa nhạc dành cho tuổi trẻ”. Series này do Bernstein tổ chức được công chiếu rộng rãi trên truyền hình với mục đích đưa nhạc cổ điển đến gần với giới trẻ. Berstein cũng là người đầu tiên giới thiệu tác phẩm Connotations của Copland trong đêm mở màn của Philharmonic Hall (nay là Avery Fischer Hall) tại Lincoln Center vào năm 1962.

Tuy các tác phẩm được Bernstein chỉ huy hầu hết đều rất xuất sắc nhưng ông vẫn luôn được nhớ đến nhiều nhất khi biểu diễn và ghi âm lại các tác phẩm của Haydn, Beethoven, Brahms, Schumann, Sibelius và Mahler. Đặc biệt không thể không nhắc đến các buổi trình diễn của New York Philharmonic các bản giao hưởng của Mahler trong thập niên 60. Những buổi biểu diễn đã đi vào huyền thoại này tái hiện lại các tác phẩm của Mahler và tôn vinh tài năng của nhà soạn nhạc.

Lấy cảm hứng từ nguồn gốc Do Thái của mình, Bernstein đã hoàn thành tác phẩm tầm cỡ đầu tiên của mình: bản giao hưởng số 1 “Jeremiah” (1943). Tác phẩm được trình diễn lần đầu tiên do đích thân nhà soạn nhạc chỉ huy cùng Pittsburgh Symphony Orchestra đã nhận được giải thưởng của các nhà phê bình âm nhạc New York. Koussevitsky lần đầu tiên công diễn bản giao hưởng số 2 “The Age of Anxiety” của Bernstein với sự tham gia của Boston Symphony Orchestra và Bernstein trong vai trò nghệ sỹ độc tấu Piano. bản giao hưởng số 3 “Kaddish” ra đời năm 1963 được Israel Philharmonic trình diễn lần đầu tiên.

Bản “Kaddish” được đề tặng: “Cho những tâm hồn cao đẹp của John F. Kennedy”. Những tác phẩm chính khác của Bernstein bao gồm: Prelude, Fugue và Riffs cho kèn clarinet và dàn nhạc Jazz (1949); Serenade cho violin, dàn dây và bộ gõ (1954); Symphonic Dances từ West Side Story (1960); Chichester Psalms cho hợp xướng, boy soprano và dàn nhạc (1965); Mass: Khúc hát cho các ca sĩ, nghệ sĩ và diễn viên múa được trình diễn nhân dịp ra mắt trung tâm biểu diễn nghệ thuật John F. Kennedy ở Washington, D.C vào năm 1971; Songfest: tập bài hát cho 6 ca sĩ và dàn nhạc (1977); Divertimento cho dàn nhạc (1980); Halil cho flute độc tấu và dàn nhạc nhỏ (1981); Tập “Touches” cho piano độc tấu (1981); Missa Brevis cho ca sĩ và bộ gõ (1988); Tập 13 ngày kỷ niệm cho piano độc tấu (1988); Concerto cho dàn nhạc “Jubilee Games” (1989) và các Aria và Barcarolle dành cho 2 ca sĩ và piano duet (1988).

Bernstein cũng đã viết một vở opera một màn Điều phiền muộn ở Tahiti vào năm 1952; đến năm 1982 tiếp tục sáng tác vở opera 3 màn Một nơi yên tĩnh. Ông cùng với biên đạo múa Jerome Robbins sáng tác 3 vở ballet: Fance Free (1944) và Facsimile (1946) cho Nhà hát American Ballet và Dybbuk (1975) cho New York City Ballet. Ông giành giải thưởng dành cho nhạc phim trong bộ phim On the Waterfronnăm 1954 và ông cũng sáng tác phần nhạc đệm cho 2 vở kịch Broadway: Peter Pan (1950) và Chim sơn ca (1955).

Bernstein có công lao đóng góp chủ yếu cho sân khấu nhạc kịch Broadway. Ông cùng Betty Comden và Adolph Green sáng tác vở On the Town (1944) và Wonderful Town (1953). Kết hợp với Richard Wilbur, Lillian Hellman và các đồng nghiệp, ông cho ra đời bản Candide (1956). Các phiên bản khác của Candide được viết với sự tham gia cùng các cộng sự Hugh Wheeler và Stephen Sondheim. Năm 1957, ông tiếp tục tham gia cùng Jerome Robbins, Stephen Sodheim và Arthur Laurents cho ra đời tác phẩm West Side Story mang tính lịch sử, đoạt giải Academy Arward dành cho phim xuất sắc nhất. Năm 1976, Bernstein và Alan Jay Lerner sáng tác tác phẩm 1600 Pennsylvania Avenue.

Ngày nay, các lễ hôi về âm nhạc của Bernstein vẫn được tổ chức khắp nơi trên thế giới.

Leonard Bernstein có buổi biểu diễn ra mắt tại Metropolitan Opera, New York vào ngày mùng 6 tháng 3 năm 1964 khi ông chỉ huy vở Falstaff của Verdi. Điều khá trùng hợp khi đây cũng là buổi ra mắt của giọng tenor xuất sắc Luigi Alva và đạo diễn opera nổi tiếng Franco Zeffirelli.

Năm 1978, Israel Philharmonic đứng ra tổ chức lễ hội tưởng nhớ những cống hiến âm nhạc của ông dành cho đất nước Israel. Năm 1988, dàn nhạc dành tặng ông danh hiệu Nhạc trưởng trọn đời. Năm 1986, London Symphony và trung tâm Barbican tổ chức lễ hội âm nhạc Bernstein. Năm 1987, dàn nhạc London Symphony bầu ông là chủ tịch danh dự. Năm 1989, thành phố Bonn tổ chức nhạc hội Beethoven/ Bernstein.

Năm 1985, Hội đồng nghệ thuật và khoa học âm nhạc quốc gia, Mĩ trọng thể trao giải Grammy trọn đời cho những đóng góp của ông cho âm nhạc. Trong sự nghiệp của mình ông đã nhận được 11 giải Emmy. Những buổi biểu diễn trên truyền hình và hàng loạt các bài giảng âm nhạc được phát trên chương trình Omnibus vào năm 1954. Tiếp theo sau đó, vào năm 1958 các buổi biểu diễn dành cho trẻ em cùng với New York Philharmonic đã được kéo dài suốt 14 mùa diễn. Xuất hiện rất nhiều lần trong series “Những buổi biểu diễn vĩ đại” của kênh truyền hình PBS trong đó có 11 lần là về Beethoven. Vào năm 1989, Bernstein và các cộng sự đã thực hiện 1 chương trình kỷ niệm 50 năm ngày đất nước Ba Lan bị xâm chiếm (1939) được thực hiện tại Warsaw được truyền hình ra khắp thế giới.

Bernstein cũng viết nhiều sách về âm nhạc như Niềm vui của âm nhạc (1959); Các buổi hoà nhạc dành cho thanh niên của Leonard Bernstein (1961); Trạng thái bất tận của âm nhạc (1966); Những sự khám phá (1982).Các cuốn sách này đều được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau. Ông có 6 bài giảng tại đại học Harvard vào năm 1972 – 1973.

Bernstein luôn sẵn sàng tạo cơ hội truyền dạy những kinh nghiêm của mình cho các nhạc sỹ trẻ tuổi. Các lớp nhạc nâng cao của ông tại Tanglewood rất nổi tiếng. Ông là người sáng lập nên dàn nhạc Los Angeles Philharmonic năm 1982. Ông đã giúp đỡ cho sự ra đời của Lễ hội âm nhạc Schleswing-Holstein nổi tiếng thế giới.

Ông cũng sáng lập ra Lễ hội âm nhạc hoà bình tại Sapporo, Nhật Bản. Với mô hình giống như tại Tanglewood, lễ hội quốc tế này được coi như lễ hội đầu tiên ở châu Á và cho đến nay vẫn còn được tiếp tục trình diễn.

Bernstein đã nhận được rất nhiều giải thưởng. Năm 1981, ông được nhận huy chương vàng do Hội đồng nghệ thuật và văn chương Mỹ trao tặng; giải National Fellowship Award năm 1985 với sự cống hiến suốt đời của ông cho sự nghiệp nhân đạo; huy chương vàng của MacDowell Colony; nhiều huân chương từ Beethoven Society và Mahler Gesellschaft. Ông cũng nhận được huy chương lớn Handel – phần thưởng cao quí nhất về nghệ thuật của thành phố New York; giải Tony Award (1969) với sự đóng góp hết mình tại các nhà hát; 12 giải thưởng và học vị danh dự tại các trường cao đẳng và đại học. Ông được công nhận là công dân danh dự tại các thành phố Oslo, Vienna, Bersheeva làng Bernstein tại Áo cũng như nhiều nơi khác nữa. Bernstein cũng nhận được hàng loạt các giải thưởng quốc gia của cac nước Italy, Israel, Mexico, Đan Mạch, Đức (Great Merit Cross) và Pháp (chevalier, officer, và commander của Legion d’Honneur). Ông nhận tước vị danh dự của Kennedy Center vào năm 1980.

Hoà bình trên thế giới luôn là điều mà Bernstein quan tâm. Tại buổi nói chuyện tại Đại học Johns Hopkins năm 1980 và tại Thánh đường St. John linh thiêng, New York năm 1983, ông luôn miêu tả những suy nghĩ của ông về một thế giời hoà bình. Chuyến lưu diễn vì hoà bình của ông cùng dàn nhạc European Community Orchetra năm 1985 từ Athens đến Hiroshima là để tưởng nhớ 40 năm thảm hoạ bom nguyên tử.

Tháng 12 năm 1989, Bernstein chỉ huy dàn nhạc biểu diễn buổi hoà nhạc “Berlin Celebration Concerts” mang tính lịch sử tại cả 2 bờ của bức tường Berlin. Buổi biểu diễn mang tính cầu nối này chưa bao giờ xảy ra, các nhạc công là đại diện của 2 quốc gia Đông Đức và Tây Đức cùng 4 cường quốc chia cắt Berlin sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Trong buổi hòa nhạc lịch sử này, Bernstein đã đổi từ “niềm vui” (Freude) trong lời thơ của Schiller thành “tự do” (Freiheit). Bernstein nói: “Tôi chắc rằng Beethoven sẽ ban phúc lành cho chúng tôi”.

Bernstein rất ủng hộ Tổ chức ân xá quốc tế ngay từ khi nó mới hình thành. Để đem lại hiệu quả cao hơn, năm 1987, ông thành lập quỹ Felicia Montealegre để tưởng nhớ tới người vợ của mình, người đã qua đời năm 1978.

Năm 1990, Bernstein nhận giải Praemium Imperiate, một giải quốc tế do Hiệp hội nghệ thuật Nhật Bản sáng lập năm 1988 cho sự cống hiến suốt đời vì nghệ thuật âm nhạc của ông. Bernstein đã dành số tiền thưởng 100.000 USD của giải thưởng này cho Quỹ giáo dục nghệ thuật Bernstein (BETA).

Buổi biểu diễn cuối cùng của ông diễn ra tại Tanglewood, Berkshires ở phía tây Massachusetts vào ngày 19 tháng 8 năm 1990. Trong chương trình này, ông cùng Boston Symphony Orchestra biểu diễn các tác phẩm Four Sea Interludes của Britten và giao hưởng số 7 của Beethoven.

Bernstein qua đời ngày 14 tháng 10 năm 1990. Thi hài ông được chôn tại nghĩa trang Green Wood, Brooklyn, New York.