HVOROSTOVSKY, DMITRI (BARITONE, 1962-2017)

“Có rất nhiều giọng hát đẹp, nhưng với tôi, không có giọng hát nào đẹp hơn giọng hát Dmitri!” – Renée Fleming

Vào một ngày mùa đông bình thường ở Siberia những năm 80 của thế kỉ trước, một ngôi sao opera mới nổi, giọng baritone mới 22 tuổi, Dmitri Hvorostovsky đã biểu diễn hàng giờ liền tại một nhà máy bánh mì ở ngay chính thành phố quê hương anh – Krasnoyarsk trong nhiệt độ dưới 0. Giống như mọi buổi biểu diễn bình thường ở bất cứ nơi nào trên nước Nga, ngay kể cả ở một nơi tỉnh lẻ như Krasnoyarsk, buổi biểu diễn vẫn được dàn dựng một cách hết sức nghiêm túc. Hvorostovsky, bạn diễn và những nhạc công, phục trang đã sẵn sàng sau bức màn sân khấu đơn sơ trong một phòng biểu diễn giá lạnh, không có cả lò sưởi. Trong cái lạnh buốt bao trùm khán phòng, từng hơi thở cuộn lên thành những đám mây nhỏ, những người nghệ sĩ biểu diễn hàng chục những trích đoạn, aria của Peter Ilyich Tchaikovsky, Giuseppe Verdi, Vincenzo Bellini… một cách say sưa đến mức không ai nhận ra rằng, hầu hết khán giả đều khóc. Gần 20 năm sau, giữa nhà hát sang trọng, khổng lồ Metropolitan Opera, New York ở độ tuổi 40 và là một trong những giọng baritone xuất sắc nhất thế hệ này, Hvorostovsky vẫn hồi tưởng lại buổi biểu diễn năm xưa – buổi biểu diễn đáng nhớ nhất đối với anh trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật: “Những người đàn ông và phụ nữ ngồi trong khán phóng với những đôi ủng nặng nề, những chiếc áo lông thú dày cộp, họ là những người còn chưa bao giờ biết đến âm nhạc Verdi, những những giọt nước mắt của họ thực sự là món quà quý giá nhất đối với tôi, còn hơn hết thảy những tráng pháo tay cổ vũ mà tôi đã từng nhận được. Liệu có nơi nào ngoài nước Nga này, cả một nhà máy ngừng làm việc giữa ngày chỉ để đến với một buổi hòa nhạc cổ điển?”. Hvorostovsky luôn tự hào ở khả năng lôi cuốn cảm xúc của mình, tạo nên mối liên cảm riêng với từng khán giả ở mỗi khán phòng, trong từng đêm diễn, điều mà Hvorostovsky đã làm được ngay từ những buổi biểu diễn đầu tiên trong sự nghiệp.
 Dmitri Hvorostovsky sinh ngày 16 tháng 10 năm 1962 tại Krasnoyarsk, thuôc Siberia, Liên Xô (nay là Liên bang Nga) trong một gia đình bình thường và hầu như không có truyền thống về nghệ thuật. Cha Dmitri, ông Alexandre Hvorostovsky là kĩ sư, còn mẹ bà Ludmila Hvorostovskaya, là một bác sĩ phụ sản. Ông bà Hvorostovsky rất bận bịu, họ gần như không được sống bên con trai, họ sống trong một căn hộ chung cư và thậm chí công việc của bà Ludmila khiến bà gần như phải túc trực tại bệnh viện 24/24 giờ. Dima (tên thuở nhỏ mà mọi người vẫn hay gọi Dmitri, ngay cả đến sau này), giống như bao cô bé, cậu bé Liên Xô khác, traỉ qua thời thơ ấu và trưởng thành trong vòng tay của bà ngoại. Bà ngoại Dima phải hứng chịu bao nỗi đau đớn khi từng người thân trong gia đình ra đi trong suốt thời kì chiến tranh vệ quốc, nên ngay từ khi mới ngoài 20 đã bạc đầu. Truyền thống gia đình, môi trường, hoàn cảnh… chính tất cả những điều đó đã làm nên một phần tính cách mạnh mẽ, cầu tiến, bộc trực đôi khi nóng nảy, bốc đồng của Dmitri sau này.
 Dmitri bắt đầu học nhạc khá sớm, từ ngay tại quê hương Krashnoyark, thành phố rất rộng nhưng chỉ có trên dưới 1 triệu dân nằm trên hơi bờ sông Yenisey, khi mới 7 tuổi. Chính vì vị trí địa lí xa xôi, thời tiết khắc nghiệt, nên dù Krashnoyark cũng là một thành phố công nghiệp phát triển nhưng rất ít người ngoài đặt chân đến Siberia, như lời Dmitri: “Tất cả những người lạ từ nơi khác đến đều trông như người Sao Hỏa”.
Tuy vây, thời ấy, chính quyền Xôviết tỏ ra rất quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân vùng đất xa xôi này. Dmitri luôn trân trọng khoảng thời gian được sống, được học, được phát triển một cách toàn diện dù ở một nơi vùng sâu vùng xa như thế: “Chính quyền Xôviết cho phép bạn được học hành đầy đủ từ A đến Z mà không phải trả một xu lẻ nào… Có một câu khẩu hiệu thể này vào những năm cuối thập niên 70: “Hãy mang văn hóa đến với người dân Siberia” và rất nhiều tiền được đầu tư để xây dựng nhà hát, nhạc viện. Tôi chẳng thể phàn nàn được điều gì, thậm chí tôi cũng chẳng phải đi đâu xa để tiếp tục học nhạc”. Nếu như bà ngoại là người ảnh hưởng nhất đến tính cách và thế giới tâm hồn của Dmitri thì cha anh, ông Alexandre lại là người đầu tiên hướng Dmitri vào con đường nghệ thuật. Ông là một người rất đam mê âm nhạc, ông từng có mơ ước cháy bỏng được trở thành một nghệ sĩ biểu diễn, nhưng cuộc sống đã đưa ông đến với nghề kĩ sư. Chính vì điều đó, ông dồn hết tâm huyết, đam mê của mình cho cậu con trai. Ông muốn Dmitri sẽ trở thành một nghệ sĩ piano tài năng. Dù vậy, cậu bé Dima ngỗ nghịch, cứng đầu chẳng tỏ ra chút gì có năng khiếu cũng như đam mê với nghệ thuật hàn lâm. Thậm chí sau khi tốt nghiệp cấp 2 trường nhạc, Dmitri còn thường xuyên giao du với những thanh niên đường phố hư hỏng, đánh nhau, gây gổ. Cậu “bắt đầu biết uống Vodka từ năm 13 tuổi, còn mũi thì hàng tá lần bị gãy” sau những trận đánh nhau và tụ tập. Thứ gần gũi với nghệ thuật nhất đối với Dmitri lúc ấy là những bản nhạc Jazz, Rock nổi loạn của những nghệ sĩ như Louis Amstrong, Freddie Mecury hay Led Zeppelin, Deep Purple… chứ không phải là những khúc dân ca mà hàng ngay bà ngoại vẫn hát hay những bản nhạc piano từng được học ở trường. Thậm chí Dmitri đã từng lập một bạn nhạc Rock heavy metal.
 Năm 16 tuổi, Dmitri được bố khuyên vào trường Cao đẳng sư phạm Krashnoyarsk, học về chỉ huy hợp xướng. Trong thời gian tiếp xúc và hướng dẫn các bạn trong đội hợp xướng, Dmitri khám phá ra giọng hát bẩm sinh của mình, giờ đây, Dmitri đã biết mình cần phải theo đuổi cái gì: “Tôi hát không ngừng nghỉ, như một con gà trống lúc nào cũng gáy. Giấc mơ duy nhất lúc ấy của tôi là trở thành một ca sĩ opera tên tuổi”.
 Ba năm sau, sau khi tốt nghiệp về chỉ huy hợp xướng, Dmitri quyết định thi vào Học viện Nghệ thuật Krashnoyarsk chuyên ngành thanh nhạc dưới sự hướng dân của giáo sư giàu kinh nghiệm Ekaterina Yoffel. Yoffel là một giảng viên tận tụy và có kiến thức uyên bác về thanh nhạc, hơn nữa bà còn là một người “mạnh mẽ, độc đoán, nghiêm khắc đến cay nghiệt, luôn tỏ ra hoài nghi nhưng lại rất chân thành”. Lúc mới học, Dmitri bộc lộ một giọng tenor vang, dày, nhưng càng học, âm vực lại càng mở rộng về khu trung, trầm, Yoffel quyết định hướng Dmitri sang giọng baritone trữ tình. Bà cũng là người dạy Dmitri những kiến thức cơ bản và khoa học nhất về nghệ thuật sử dụng và điều phối hơi thở, cũng như việc phát triển cơ hoành và lồng ngực. Dmitri rất tự tin ở thế mạnh này, tất cả các sinh viên của nhạc viện luôn cảm thấy ghen tị trước khả năng của Dmitri, chỉ với một hơi thở căng đầy, cơ hoành của anh khỏe đến mức có thể đẩy lùi cả một chiếc piano cỡ lớn dọc căn phòng, điều khiến chúng ta liên tưởng đến huyền thoại Enrico Caruso. Sau này, khi trực tiếp biểu diễn với Dmitri, Renee Fleming đã phải thốt lên: “Kĩ thuật điều khiển hơi thở của anh ấy tuyệt vời đến mức hầu hết chúng tôi đều mơ ước có được”. Nhưng quan trọng hơn, Dmitri nói: “Yoffel dạy tôi không chỉ sử dụng cái đầu trong ca hát mà phải bằng cả trái tim: với bà, mỗi một note nhạc bạn hát đều biểu lộ một điều gì đó”. Dmitri luôn thể hiện vai diễn với những cảm xúc mãnh liệt nhất, điều này anh được học từ chính Yoffel, bà chịu ảnh hưởng phương pháp diễn xuất của đạo diễn sân khấu Liên Xô tài năng Stanislavsky. Với mỗi lần tổng duyệt trong các vở opera bi kịch của Verdi, Tchaikovsky, Dmitri đều phải cố gắng để ngăn những giọt nước mắt của xúc cảm thực sự: “Nếu tôi để cho bản thân mình tự do, tôi sẽ gầm lên khi trong một tâm trạng đau đớn như vậy, điều này khiến tôi phải tự kiềm chế bản thân, và truyền những cảm xúc tươi rói ấy vào những đoạn nhạc đẹp đẽ mà vẫn đúng kĩ thuật”.
 Có một điều mà Yoffel không thể truyền đạt được cho Dmitri, đó là nghệ thuật hát theo truyền thống Bel canto – Ý với các tác phẩm của những tác giả Gioacchino Rossini, Bellini, Gaetano Donizetti, nghệ thuật hát đòi hỏi những kĩ thuật chạy note, lướt note hoa mĩ, biến ảo, kĩ năng nhả chữ hiệu quả trong những đoạn nhạc phong phú, đề cao âm nhạc và âm thanh hoàn hảo của giọng hát. Phong cách Bel canto dường như bị thất sủng ở Liên Xô trong thời kì Stalin vì có ý kiến cho rằng nó mang nhiều tính chất nguy hiểm của “chủ nghĩa thế giới” và ngay chính một giảng viên tài năng với kiến thức uyên bác như Yoffel cũng không nắm rõ điểm mấu chốt của phương pháp luyên tập bel canto. Chính Dmitri đã tự khám phá và tìm tòi để chinh phục mảng âm nhạc hấp dẫn và rất được yêu thích trên thế giới này. Thật may mắn, Dmitri tìm gặp được một người đàn ông già và có vẻ lập dị trong thị trấn ở Krashnoyarsk. Ông ta là một người hâm mộ opera một cách cuồng nhiệt, sống trong một căn hộ một phòng, chất đầy đĩa nhạc opera đến nỗi “không còn chỗ để đứng hay ngồi”. Từ những LP cũ của người đàn ông già, Dimitri đã biết đến và học hỏi miệt mài ở những nghệ sĩ tài năng của Ý như Mattia Battistini, Giuseppe de Luca, Ettore Bastianini và đặc biệt là giọng baritone người Armenia – Pavel Lisitsian, người hiếm hoi theo đuổi phong cách hát bel canto tại Liên Xô. Lisitsian là người mà Dmitri coi là thần tượng thực sự của mình trong suốt cuộc đời.
 Sau khi tốt nghiệp, Dmitri tham gia nhà hát Opera Krashnoyarsk. Lần xuất hiện trên sân khấu đầu tiên của Dmitri là với Monterone – một vai nhỏ trong vở Rigoletto của Verdi. Ngay sau đó, Dmitri tham gia hàng loạt các cuộc thi thanh nhạc uy tín trong và ngoài nước và đều dành được giải nhất. Đầu tiên là Cuộc thi thanh nhạc toàn Liên bang (1985), rồi giải thưởng lớn trong Cuộc thi thanh nhạc Glinka tại Baku (1986). Năm 1988, lại tham gia và chiến thắng tại Toulouse Singers Competition. Năm 1989, dưới sự tiến cử của Irina Arkhipova, Dmitri đã tham gia cuộc thi thanh nhạc cổ điển danh tiếng nhất thế giới lúc này: “Cardiff – singer of the world”.
 Times đã giành cho anh những lời có cánh: “Đi tới, hát, giành chiến thắng”. Tuy nhiên, thực tế, không phải dễ dàng mà Dmitri có thể giành được giải thưởng lớn nhất của cuộc thi. Năm ấy, tham gia Cardiff cũng có 1 giọng bass-baritone cao lớn trẻ tuổi đến từ Welsh, Bryn Terfel. Cuộc chạm trán đầu tiên của họ hầu như không thể quên được đối với họ cũng như đối với những thính giả, nó đã được miêu tả là “Cuộc chiến của những Baritone”. “Cả hai chúng tôi đều còn rất trẻ và đầy sức sống”, Hvorostovsky mỉm cười thuật lại, “Tôi lớn hơn Bryn vài tuổi và tôi vừa thắng hai cuộc thi quan trọng, tại Nga và tại Pháp. Theo thời gian tôi đến với Cardiff. Tôi kiêu ngạo và ngu dốt không tưởng tượng được và nghĩ rằng mình rất giàu kinh nghiệm. Và tôi không bao giờ hồ nghi rằng tôi sắp sửa chiến thắng – cho đến một ít phút trước khi tôi phải hát vòng chung kết, khi tôi nghe giọng ca khỏe mạnh của Bryn và nhìn thấy phản ứng của khán giả. Tôi nghĩ. “Ồ không! Thôi rồi, có lẽ mình chỉ đạt hạng 3 thôi…” Rắc rối ở chỗ tôi đã không có một cái áo đuôi tôm, do đó tôi đã mượn tiền để mua cho mình một bộ đổi lấy số tiền tôi mong sẽ có khi thắng giải nhất!… Vào lúc đó, tôi bắt đầu nghi ngờ bản thân lần đầu tiên. Bryn thực sự tỏa sáng, giọng đẹp và nhả chữ thật tuyệt vời, những điều này hầu như hạ gục tôi. Nhưng tôi hi vọng rằng Verdi sẽ mang chiến thắng cho tôi, bởi vì tôi đã hát cảnh cái chết của Rodrigo trong Don Carlo, nó đã trở thành thương hiệu của tôi hai năm trước. Tôi thực sự nghĩ rằng điều này sẽ cứu tôi. Và nó đã làm” . Hvorostovsky đã đạt giải thưởng lớn và ban giám khảo đành phải thêm hạng mục “ca sĩ hát thính phòng hay nhất” cho Bryn Terfel như một giải thưởng an ủi. Bryn Terfel cũng trở thành một trong những bass-baritone xuất sắc nhất hiện nay, hai người vẫn thỉnh thoảng gặp nhau và cộng tác trong một vài vở opera được dàn dựng gần đây.
 Từ sau chiến thắng vinh quang tại cuộc thi, con đường nghệ thuật rộng thênh thang mở ra trước mắt anh. Dmitri Hvorostovsky, giọng baritone vô danh đến từ Siberia xa xôi, chỉ sau một đêm đã được các hãng thu âm uy tín rào đón, được mời hát ở hầu hết tất cả những nhà hát opera nổi tiếng của thế giới. Ngoài ra, anh còn liên tiếp được phong tặng danh hiệu, giải thưởng tại quê hương như: Nghệ sĩ công huân vào năm 1990, giải thưởng Quốc gia năm 1991, nghệ sĩ Nhân dân của Liên bang Nga vào năm 1995 .
 Với thế mạnh là giọng baritone trữ tình dày, đẹp, kĩ thuật hoàn hảo, khả năng diễn xuất tinh tế, giàu cảm xúc và một ngoại hình cuốn hút sân khấu, tromh dáng vẻ vạm vỡ, khuôn mặt điển trai cùng mái tóc bạch kim lãng tử, Dmitri đã chinh phúc khán giả ở tất cả những nhà hát danh tiếng nhất thế giới với hơn 30 vai diễn trong opera Tchaikovsky, Sergei Profokiev, Wolfgang Amadeus Mozart, Rossini… và đặc biệt là Verdi như Onegin (Eugene Onegin), Công tước Andrei (War and Pearce), Figaro (Il barbiere di Siviglia), Don Giovanni và Leporello (Don Giovanni), Figaro (Le nozze di Figaro), Rodrigo (Don Carlo), Renato (Un ballo in maschera), Francesco (I Masnadieri), Germon (La Traviata), Rigoletto (Rigoletto)… Năm 1989, Dmitri có một buổi recital đầy ấn tượng tại London. Năm 1990 lại tiếp tục có một buổi recital thành công New York. Năm 1993, Dmitri Hvorostovsky ra mắt khán giả Ý tại nhà hát La Fenice với vai diễn sở trường Onegin. Năm 1993 với Germon trong La Traviatatại Chicago Liric Opera và đến năm 1995, khán giả của nhà hát opera danh tiếng Metropolitan Opera đã được thưởng thức giọng ca tuyệt đẹp của Hvorostovky. Những chuyến lưu diễn dài trên thế giới từ Royal Convent Garden, Teatro alla Scala, Bavarian State Opera, Berlin State Opera, Vienna State Opera, Teatro Colon… dần khẳng định tên tuổi và vị trí của Hovorostovky trên sân khấu opera quốc tế – một trong những giọng baritone trẻ tài năng nhất trong những năm cuối cùng của thế kỉ và dường như không có đối thủ trong những vai diễn opera Verdi.
 Phong cách thể hiện của Dmitri giàu tính trữ tình, tự sự, gần với trường phái thanh nhạc cổ điển hơn là những gì mà khán giả được biệt đến từ những giọng baritone cùng thời. Dmitri bày tỏ quan điểm riêng của mình: “Verdi đánh dấu trong tổng phổ rất nhiều note nhạc phải được hát piano, pianissimo ví dụ như trong Rigoletto. Rất ít người biểu diễn theo cách đó kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Thật ngạc nhiên khi kết hợp cốt truyện, lời hát và âm nhạc. Và âm nhạc thật sự xuất chúng. Tất cả mọi thứ Verdi viết cho giọng baritone rất đẹp, thoải mái và hoàn hảo. Cantilena của Verdi là xuất sắc nhất thế giới. Vì vậy tôi có thể thích thú sử dụng giọng ca của mình, trong khi nhân vật luôn luôn gây kích thích và phức tạp”. Những kịch tính mãnh liệt được tạo ra từ cảm xúc và một giọng hát có âm sắc vang, dày, biểu cảm hơn là những những tiếng gào thét, gằn giọng bộc lộ trực diện hay những điệu bộ bên ngoài. Thực tế giọng hát của Dmitri có vẻ nhỏ và nhẹ hơn rất nhiều so với những gì mà khán giả cảm nhận trên sân khấu, đó là bởi khả năng diễn xuất cộng với kĩ thuật điều khiển hơi thở điêu luyện.
 Không chỉ với opera, Hvorostovsky cũng rất quan tâm đến mảng âm nhạc thính phòng như anh vẫn hay nói: “Trong 1 buổi biểu diễn recital, bạn thực sự là một ông vua”. Từ những romance, ca khúc nghệ thuật của Maurice Ravel, Georges Bizet cho đến những tác phẩm của những nhà soạn nhạc dân tộc như Tchaikovsky, Anton Rubinstein, Sergei Rachmaninov, Alexander Borodin, Modest Mussorgsky… và đặc biệt là Gyorgy Svidrov – nhà soạn nhạc Nga hiện đại mà Hovorostovsky luôn ca ngợi là “Học trò xuất sắc nhất của Dmitri Shostakovich”. Hvorostovsky cũng tham gia nhiều buổi biểu diễn recital tại các nhà hát quốc tế ở London, New York, Milan, Moscow, Hong Kong và Vienna cũng như tại Seoul, Oslo, Istanbul, Jerusalem, Nam Phi, và Á Đông với những dàn nhạc lớn như New York Philharmonic, San Francisco Symphony Orchestra, Rotterdam Philharmonic… cùng những bạn diễn, nhạc trưởng tài năng như Sumi Jo, Rene Fleming, Olga Borodina, Valery Gergev, Claudio Abbado, Bernard Haitink, Lorin Maazel, Charles Dutoit, Zubin Mehta… Giya Kancheli đã viết tác phẩm giao hưởng “Do not Grieve” dành riêng cho Hvorostovsky và San Francisco Symphony Orchestra.

 Dmitri Hvorostovsky cũng đã phát hành khá nhiều đĩa nhạc với các hãng Phillips và Delos Records. Có thể kể đến Eugene Onegin, La Traviata, Cavalleria Rusticana (Pietro Mascagni), The Tsar’s Bride (Nikolai Rimsky-Korsakov) và Don Carlo. Anh cũng giới thiệu những đĩa nhạc về các ca khúc Neapolitan, Nga, aria  cổ điển cũng như các bản “Thánh ca” của Nga. Album mới nhất của anh là “Dmitri Hvorostovsky – Heroes & Villains”.

Valery Gergev nhận xét: “Dmitri thực sự được trưởng thành từ nền văn hóa Nga, được nuôi dưỡng từ nguồn vitamin dồi dào của Nga. Nó giống như những cầu thủ bóng đá Braxin thi đấu trong những câu lạc bộ của Milan, họ không trở thành người Ý mà luôn giữ trong mình chất Braxin mỗi khi chơi bóng”. Hvorostovsky luôn giữ một tình yêu nồng nàn không hề phai nhạt hướng về quê hương Nga yêu dấu, dù ở bất cứ nơi đâu. Bên cạnh những tác phẩm âm nhạc cổ điển, Dmitri còn biểu diễn, thu âm nhiều ca khúc dân ca và đặc biêt là những ca khúc nhạc cách mạng tiêu biểu trong thời kì chiến tranh Vệ Quốc. “Kachiusa”, “Chiều Hải cảng”, “Chiều Moscow”, “Giờ này anh ở đâu”, “Cánh đồng Nga”… những ca khúc đã gắn liền với một thời kì lịch sử hào hùng và bi tráng với mỗi người dân Nga. Tháng 5 năm 2004, Hvorostovsky trở thành ca sĩ đầu tiên tổ chức một buổi hoà nhạc với dàn nhạc và dàn hợp xướng tại quảng trưởng Đỏ và được truyền hình trực tiếp đến 25 quốc gia. Năm 2005, dưới lời mời của tổng thống Nga Vladimir Putin, Hvorostovsky thực hiện một tour diễn lịch sử trước hàng trăm ngìn người để tưởng niệm những chiến sĩ đã anh dũng hi sinh trong suốt cuộc chiến tranh Vệ quốc. 2 album best-seller thu âm những ca khúc cách mạng: “Where are you, my Brothers?” và “Moscow Nights” nhanh chóng trở thành hiện tượng không chỉ ở Nga và còn được đón nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tháng 1 năm 2006, Hvorostovsky lại thực hiện một tour diễn đến nước Mỹ, giới thiệu những ca khúc tuyệt vời này đến với đông đảo người yêu nhạc. Báo chí Mĩ đã không tiếc lời ca ngợi với những cái tít thật ấn tượng: “Âm nhạc của người Mẹ Nga và baritone của bà”.

 Là một người cẩn thận và cầu toàn, Hvorostovsky rất ý thức trong việc bảo vệ giọng hát của mình đôi khi đến mức bảo thủ. Nhạc trưởng Georg Solti sau một buổi biểu diễn ấn tượng đã nói: “Cậu sẽ là Iago sắp tới của tôi”. Hvorostovsky lúc ấy mới đang là một giọng baritone trẻ và thiếu kinh nghiệm, không ngần ngại từ chối: “Không, không thưa Nhạc trưởng. Tôi còn quá, quá trẻ để hát Iago ”. Ở tuổi ngoài 40, Dmitri cũng quyết định sẽ không tiếp tục nhận vai Don Giovanni nữa dù rất nhiều người mời hát: “Nó hơi quá thấp với âm vực giọng hát của tôi”, thậm chí cũng không hát cả những vai bass-baritone nổi tiếng trong opera Nga như Prince Igor (Prince Igor, Borodin), Gryaznoy (The Tsar’s Bride) mà anh rất thích, vì cho rằng những vai diễn ấy phải gào thét nhiều và rất hại giọng hát của anh. Sarah Billinghurst, nhân viên quản lý tại Met, một người theo sát Dmitri trong suốt thời gian dài kể từ khi anh cộng tác với Met đã nói rằng: “Dmitri là người rất khôn ngoan và thận trọng trong việc bảo vệ giọng hát mình. Với khả năng của cậu ấy, cậu ấy vẫn có thể hát thật tuyệt vời ngay đến cả khi đã ngoài 60 tuổi”
 Ở độ tuổi trung niên và trên đỉnh cao của danh vọng, Hvorostovsky trở nên điềm đạm và từng trải hơn những ngày đầu. Sau những chuyến lưu diễn không ngừng nghỉ, bận rộn với công việc sản xuất những album mới, Hvorostovsky lại tự thưởng cho mình những phút giây êm đềm, hạnh phúc cùng người vợ Florence Illi – một soprano Ý gốc Thụy Sĩ trong một căn hộ sang trọng tại London.
 Với tài năng cũng như ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc, chắc chắn Dmitri Hvorostovsky sẽ còn đạt được không ít những thành công lớn trên con đường sự nghiệp của mình. Khán giả vẫn luôn chờ đợi những tác phẩm mới, vai diễn mới đầy ấn tượng của anh trong tương lai.
Văn Phương (nhaccodien.info) tổng hợp