Murray Perahia là một nghệ sĩ piano mang hai dòng máu: Do Thái và Tây Ban Nha. Ông sinh ngày 19 tháng 4 năm 1947 ở khu phố Bronx, New York. Perahia đã bộc lộ tài năng âm nhạc từ rất sớm, cha của ông, một thợ may có đam mê âm nhạc nhưng không đuợc sự ủng hộ của gia đình nên không trở thành một nhạc công như mong muốn. Perahia đuợc cha khuyến khích đi theo con đường âm nhạc và đuợc cha đưa đến nhà hát Metropolitan Opera, New York vào các tối thứ 7.
“… Tôi có thể hát lại những aria tôi đã nghe ở nhà hát. Mọi việc đã bắt đầu như thế và sau đó, tôi có một cây đàn piano và bắt đầu học…”. Khi đó ông mới 4 tuổi. Cha mẹ ông là những nguời thầy đầu tiên của ông và họ không thúc ép ông phải tập đàn “… Đó hoàn toàn là sở thích của tôi!…”.
Năm 1952, Murray Perahia bắt đầu theo học Jeanette Haien, một trợ giảng của Abran Chasins. Haien không chú trọng vào kỹ thuật mà chủ yếu huớng Perahia vào việc cảm thụ âm nhạc, chép nốt nhạc, lý thuyết, phân tích. Dù Perahia ngay từ nhỏ đã đuợc coi là một thần đồng nhưng Haien đã khéo léo giữ khoảng cách giữa Perahia với các buổi trình diễn. Ông chỉ có cuộc ra mắt công chúng đầu tiên khi 17 tuổi.
Cũng giống như các đứa trẻ khác, Perahia không thích tập đàn cho lắm, mặc dù ông rất thích ứng tác và sắp xếp lại các giai điệu ông đã nghe ở nhà hát hoặc các giai điệu âm nhạc Tây Ban Nha – loại nhạc mà cha ông yêu thích. Ông chỉ tập đàn nghiêm chỉnh khi ông đuợc 15 tuổi, khi ông tham gia vào một trại âm nhạc tại Blue Hill, Maine. Thành công đến với ông không lâu sau đó, đó là vào năm 1964, khi Perahia được 17 tuổi, ông học sáng tác và chỉ huy với Carl Bamberger tại trường nhạc Mannes – Manhattan. Ông cũng theo học riêng với Mieczyslaw Horszowski và Artur Balsam. Khi đó, ông hay nghe các đĩa nhạc của Horowitz, Clifford Curzon và Horszowski – nguời thầy của mình. Một năm sau đó, năm 1965, ông chiến thắng trong cuộc thi Kosciusko Chopin dành cho các nghệ sĩ trẻ.
Nhận lời mời của Rudolf Serkin, Perahia tham gia trình diễn tại Festival âm nhạc Marlboro dành cho nhạc thính phòng tại Vermont. Ông đã trình diễn với các nghệ sĩ lớn như Serkin, Pablo Casals, Alexander Schneider và nhóm tứ tấu đàn dây Budapest. Năm 1968, ông có buổi debut ở Carnegie Hall, dưới sự chỉ huy của Alexander Schneider.
Perahia tốt nghiệp truờng nhạc Mannes vào năm 1969 và làm trợ giảng cho Serkin tại học viện âm nhạc Curtis – Philadelphia trong 1 năm. Năm 1972, khi đuợc người đại diện của mình – Frank Solomon khuyên bảo, Perahia đồng ý tham gia vào cuộc thi piano quốc tế Leeds và trở thành nguời Mỹ đầu tiên giành được giải nhất trong cuộc thi này. Một hợp đồng thu âm và biểu diễn với những dàn nhạc lớn ở châu Âu đã đến, mở đầu là tại Festival Aldeburg ở Anh. Khi đó, danh mục các tác phẩm của ông đa số là các tác phẩm của Schumann và Mozart, nguời ta ca ngợi ông là “thi sĩ của cây đàn piano”, một người không hoa mỹ, không phô trương, như một hình mẫu của người thầy, Mieczyslaw Horszowski. Sau cuộc thi trên, ông đã gặp gỡ và cộng tác trong một thời gian dài với những người sáng lập ra Festival này: nhạc sĩ Benjamin Britten và giọng nam cao Peter Pears với tư cách là cố vấn nghệ thuật cho Festival trong 8 năm từ 1981 đến 1989 cũng như song tấu với Pears trong một số recital.
Mười năm sau, vào khoảng năm 1982, Perahia gặp Vladimir Horowitz – một trong những “phù thuỷ” piano vĩ đại nhất trong lịch sử. Mặc dù “rất sợ” khi phải học với Horowitz nhưng trong nhiều năm sau đó, Perahia không học với ai ngoại trừ Horowitz, những bài học mà theo người đương thời là “kỳ quặc và hơi điên rồ”. Và sau cuộc gặp gỡ với Horowitz, Perahia cho công chúng thấy một phong cách trình diễn hoàn toàn khác – ồn ào, chói tai và phô trương hơn; khi đó, trong danh mục các tác giả của Perahia đã có thêm Rachmaninov và Liszt. Tình bạn của Horowitz với Perahia càng trở nên thân thiết vào những năm cuối đời. Tháng 11 năm 1989, trong đêm Horowitz mất, Perahia đã ở bên cạnh người nghệ sĩ vĩ đại và là người cuối cùng được nghe Horowitz chơi đàn. Tối hôm đó, Horowitz đã chơi tác phẩm “Weinen, Klagen, Sorgen, Zagen” – một tác phẩm hợp xướng của Bach được Liszt chuyển soạn.
Trong chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới qua Bắc Mỹ, châu Âu, Israel và Nhật Bản; năm 1991, Perahia bị một thứ – dường như là một tờ giấy làm đứt tay và chuyện tưởng chừng nhỏ bé đó đã gần như kết thúc sự nghiệp biểu diễn của ông. Vài ngay sau khi bị đứt tay, vết thương bị nhiễm trùng và Perahia phải điều trị với kháng sinh, vấn đề dường như đã được giải quyết ổn thoả. Tuy nhiên chỉ vài tuần sau, ngón tay ông sưng tấy lên “… Không ai nói cho tôi biết tại sao. Các bác sĩ không thể tìm ra nguyên nhân, họ không biết phải làm gì với nó cả! …”
Các cuộc chẩn đoán sau đó không tiết lộ thêm điều gì, các cuộc phẫu thuật tiếp theo cũng thất bại. Một cuộc phẫu thuật cắt bỏ phần mô sưng đi đã tạm thời giải quyết vấn đề và Perahia lại có thể chơi đàn trở lại, nhưng ngón tay lại sưng tấy lên một năm sau đó. “… Các bác sĩ thông báo với tôi một tin rất xấu, rằng không có hy vọng gì, nhưng tôi không muốn tin. Tôi không thể …Niềm an ủi và mục đích cuộc sống của tôi khi đó chỉ có âm nhạc của Bach”.
Không thể chơi đàn, Perahia chú tâm đến âm nhạc của Bach và học cách sử dụng phép đối âm, hoà âm từ các bản nhạc. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2001, Perahia nói rằng điều đó cho phép ông tiếp cận âm nhạc theo một cách rất khác với những gì mà ông biết từ trước đến nay “… bạn cảm nhận đuợc cái cốt lõi, tinh hoa của âm nhạc… học hỏi mà không cần bận tâm đến kỹ thuật, không cần bận tâm đến ngón tay thứ 4 hay thứ 5 và đại loại như thế; điều đó rất quan trọng vì nó giúp bạn thực sự hiểu được âm nhạc của nhạc sĩ …”
Cảm nhận đuợc âm nhạc của Bach cho Perahia một cách tiếp cận mới và toàn diện “ …tôi nghĩ Bach thực sự là tinh hoa của âm nhạc. Sự chặt chẽ và toàn diện làm cho nốt nhạc sau gắn bó chặt chẽ với nốt nhạc trước, ảnh hưởng của ông đến âm nhạc thật vĩ đại. Không ai có thể sáng tác như thế cho dù có hiểu biết tường tận âm nhạc Bach đến mức nào đi nữa! …”
Và vấn đề nghiêm trọng của Perahia đã đuợc giải quyết khi tiến hành chẩn đoán bằng máy quét 3 chiều, cho thấy một chiếc xương chính là nguyên nhân và phẫu thuật đuợc tiến hành sau đó. Năm 1997, Perahia đã có thể trình diễn trở lại và kể từ đó, ông không gặp phải vấn đề gì nữa. Năm 1998, đĩa nhạc English Suites (Tổ khúc Anh – Johann Sebastian Bach) của ông đuợc các nhà phê bình đánh giá rất cao và đã giành giải Grammy cũng như được tạp chí Classic CD bình chọn là đĩa nhạc hay nhất của năm 1998. Sau đó, Perahia tập trung vào âm nhạc Bach. Năm 2000, đĩa nhạc “Goldberg Variations” đuợc thời báo New York bình luận: “… Không chê vào đâu được, âm nhạc tuôn chảy như suối, trong vắt… một thành công ngoạn mục…”. Bộ đĩa tiếp theo là 7 concerto cho đàn phím của Bach, và trong đó, ngoài vị trí pianist, Perahia còn kiêm luôn vai trò chỉ huy dàn nhạc Academy of Saint Martin in the Fields.
Perahia miêu tả sự trở lại của mình với cây đàn piano “…sự hân hoan tuyệt vời khi được chơi đàn trở lại, không màng danh vọng cuộc đời …”. Dường như sự từng trải đã để lại dấu ấn trong âm nhạc của ông; như các nhà phê bình đã nói, khi ông trở lại, âm nhạc của ông sâu sắc và đầy đặn hơn, mà không mất đi sự tự nhiên và thanh thoát …
Trong sự nghiệp của mình, Perahia đã làm việc với nhiều nhạc trưởng danh tiếng như Claudio Abbado, Daniel Barenboim, Leonard Bernstein, Bernard Haitink, Rafael Kubelik, Zubin Mehta, Lorin Maazel, Ricardo Muti, Wolfgang Sawallisch, Georg Solti v.v…Trong đó, với các tác phẩm thính phòng, Perahia hay biểu diễn với Alexander Schneider, Radu Lupu, Paul Tortelier và Pinchas Zukerman.
Perahia nổi tiếng với các tác phẩm của Mozart, Chopin, Schumann, Brahms và gần đây là Bach. Perahia là bậc thầy trong việc thể hiện các tác phẩm trữ tình và vui tươi. Nổi bật trong số đó là trọn bộ concerto dành cho piano của Mozart, hoà tấu cùng English Chamber Orchestra.
Một trong những đĩa nhạc mới nhất của ông là trọn bộ các Etude của Chopin, một trong những tác phẩm khó nhất với bất kì nghệ sĩ nào. Và dường như, Perahia đã chinh phục được một đỉnh cao mới. Với đĩa nhạc này, Perahia đã thực sự đứng cùng hàng ngũ với những nghệ sĩ bậc thầy đã từng thể hiện thành công tác phẩm này: Maurizio Pollini, Vladimir Ashkenazy, Earl Wild và Alfred Cortot. Cortot chính là nguời đầu tiên hoàn thành các Etude này vào năm 1933. Mặc dù phong cách của Cortot dữ dội hơn Perahia nhưng cả hai đều thể hiện rất xuất sắc và bộc lộ được cái hồn của bản nhạc, làm sửng sốt thính giả. Những nghệ sĩ khác, Pollini chẳng hạn, lại chinh phục bản nhạc với một sự điêu luyện tuyệt vời, nhưng Perahia đã tiến thêm một buớc và tiếp cận được cái hồn của tác phẩm. Còn với Ashkenazy, đặc biệt là bản thu khi ông còn ở Nga, cũng như huyền thoại Earl Wild đều thể hiện được một vẻ đẹp, màu sắc âm nhạc hiếm có; nhưng Perahia còn mang vào tác phẩm cả sự đam mê.
Các Etude của Chopin không chỉ là một bản thu xuất sắc của Perahia, mà còn là một cột mốc đáng nhớ trong sự nghiệp của người nghệ sĩ đầy nghị lực này. Thính giả trên khắp thế giới sẽ dõi theo và trông chờ những thành công mới của ông.
Mạnh Thành (nhaccodien.info) tổng hợp