Anh: Contrabasse/Double bass; Pháp: Contrebasse; Đức: Kontrabass; Ý: Contrabasso; TBN: Violon; phiên âm tiếng Việt: Công-tra-bát
Mặc dù không được công nhận phổ biến, đàn contrabass được xem là phiên bản hiện đại duy nhất của họ nhạc cụ viola da gamba (hay viol) vốn bắt nguồn từ châu Âu vào thế kỉ 15 trong đó cây contrabass được gọi là viol trầm.
Trước thế kỉ 20 nhiều cây contrabass chỉ có 3 dây – trái ngược với cấu tạo có 5 hoặc 6 dây của họ viola da gamba hoặc 4 dây của họ violin.
Tỉ lệ giữa các phần của contrabass không giống với của violin (ví dụ như khoảng cách giữa mặt trước và mặt sau của contrabass lớn hơn). Ngoài ra, contrabass có phần vai dốc hơn giống như các loại viola da gamba không như vai của đàn violin. Nhiều cây contrabass cổ có phần vai làm được làm dốc hơn để thích ứng với kĩ thuật chơi hiện đại. Trước khi có sự thay đổi đó contrabass có phần vai giống với vai của các nhạc cụ thuộc họ violin hơn.
Contrabass là nhạc cụ dây dùng vĩ duy nhất được lên dây cách quãng 4 (giống viola da gamba), khác với violin, viola và cello được lên dây cách quãng 5. Nguồn gốc chính xác của contrabass vẫn là một chủ đề gây tranh cãi; việc contrabass có phải là hậu duệ trực tiếp của họ nhạc cụ viola da gamba hay không vẫn chưa được xác định. Dù bề ngoài của contrabass giống như của viola da gamba, cấu tạo bên trong của nó lại gần như y hệt violin và rất khác các loạI viol.
 
Cấu tạo
 
Thân
Hộp của contrabass được làm hầu như toàn bộ bằng gỗ. Một cây đàn contrabass truyền thống thường có mặt trước làm bằng gỗ vân sam còn mặt sau, hai bên và cổ làm bằng gỗ thông.
Hai mặt đàn thường được làm thủ công. Để làm hai bên đàn, người ta hun nóng gỗ và uốn quanh các khuôn. Nhìn từ phía trước, thân contrabass có thể chia làm 3 bộ phận: phần trên và phần dưới nở rộng, phần giữa hẹp, giới hạn bởi hai chữ C quay lưng vào nhau. Hai khe hình chữ S và ngựa đàn nằm ở gần như chính giữa thân đàn.
Cổ, hộp chốt và cuộn xoắn ốc
Phía trên thân đàn là cổ đàn, tiếp đến là hộp chốt và cuộn xoắn ốc. Cổ đàn, hộp chốt và cuộn xoắn thường được tạc từ một mảnh gỗ nguyên. Gắn liền với cổ đàn và xuống đến phần giữa của thân đàn là bàn phím. Bàn phím là một thanh gỗ, thường là gỗ thông, được đẽo cong về hai bên và được dán với cổ đàn. Nơi tiếp nối giữa bàn phím và hộp chốt có một mảnh gỗ chìa ra, đỡ lấy dây đàn, gọi là mấu (được giữ bởi dây đàn). Hộp chốt có 4 chốt lên dây sử dụng cơ cấu truyền động phức tạp hơn của violin. Cuộn xoắn ốc là một bộ phận truyền thống của các nhạc cụ dây. Người ta thường dùng gỗ mun để làm các chốt lên dây, bàn phím và mấu, ngoài ra có thể dùng các loại gỗ khác có màu tối như hoàng dương hoặc hồng mộc.
Chốt mắc dây và chân đế
Chốt mắc dây, thường làm bằng gỗ lim, gắn ở phần dưới thân đàn. Chốt mắc dây theo truyền thống được làm bằng gỗ mun hoặc các loại gỗ khác có màu tối, nhưng ngày nay có thể làm bằng nhựa hoặc các vật liệu tổng hợp. Chân đế gắn với đáy của thân đàn, giữ cho nhạc cụ không bị trượt trên sàn diễn.
Ngựa đàn và hai khe chữ S
Ngựa đàn là một mảnh gỗ hoặc nhựa nâng dây đàn lên khỏi mặt đàn và truyền dao động của dây đến que chống và thanh dọc bên trong. Ngựa đàn không bị gắn chặt vào thân đàn mà được các dây đàn giữ ở đúng vị trí. Các khe hình chữ S ở 2 bên ngựa đàn, làm nhiệm vụ cho không khí đi vào và đi ra khỏi hộp đàn, tạo nên âm thanh. Ngoài ra các khe hình chữ S còn cho phép tiếp cận với những phần bên trong hộp đàn nếu cần sửa chữa.
Dây đàn
Dây đàn contrabass trước kia được làm từ ruột ngựa (hoặc trâu, bò, cừu). Ngày nay dây đàn có thể làm bằng ruột động vật, thép hoặc các vật liệu tổng hợp và được bọc ngoài bởi dây kim loại. Dây son thường không được bọc ngoài và làm bằng thép trần hoặc được mạ vàng.
Dây contrabass thường được lên với cao độ mi – la – rê – son nhưng một số người chơi lại lên theo kiểu đô – son – rê – la. Khi biểu diễn solo người nghệ sĩ lại thường lên dây cao hơn một cung thành fa # – si – mi – la.
Những chi tiết bên trong
Bên trong contrabass có hai bộ phận quan trọng: que chống và thanh dọc. Que chống bị kẹp giữa mặt trước và mặt sau của đàn, còn thanh dọc thì được dán vào phía trong mặt trước, song song với dây đàn. Ngoài chức năng tăng cường sức chịu lực của mặt đàn, hai bộ phận trên còn có tác dụng truyền dao động của dây xuống hộp đàn.
Theo truyền thống, vĩ được làm từ gỗ pernambuco (chất lượng cao) hoặc brazilwood (chất lượng thấp hơn). Cả hai loại gỗ đều lấy từ cây Caesalpina echinata; pernambuco là phần gỗ ở lõi của cây và màu tự nhiên đậm hơn. Pernambuco bền và nặng, có tính đàn hồi cao và truyền âm tốt, khiến nó trở thành loại gỗ lí tưởng để chế tạo vĩ. Dây vĩ làm từ lông đuôi ngựa, nhưng cũng có lúc lông nhân tạo được dùng để thay thế. Ngày nay, người ta còn dùng thủy tinh hữu cơ và sợi carbon để làm vĩ. Dây vĩ được phủ cô-lô-phan định kì để làm tăng độ ma sát với dây đàn. Vĩ cần phải được thay dây định kì, chủ yếu là do dây vĩ rất dễ bị mỏng đi do cọ xát trong quá trình chơi đàn. Dây bị chùng cũng cần được để ý. Dây vĩ được kéo căng nhờ một con ốc gắn ở quai (bộ phận mà người chơi giữ lấy khi đang chơi đàn). Vĩ dành cho contrabass dài khoảng từ 65 đến 72 cm.

Tư thế chơi

Người chơi contrabass phải đứng hoặc ngồi và đặt nhạc cụ giữa 2 chân của mình, tay trái bấm nốt còn tay phải kéo vĩ hoặc búng nốt (pizzicato). Có lúc ngón tay cái của tay trái cũng được sử dụng để bấm nốt.
Lịch sử phát triển
Vào khoảng năm 1750 contrabass đã thay thế cho violone – một loại nhạc cụ tương tự thuộc họ viola da gamba. Sự xuất hiện muộn màng của contrabass không thu hút được nhiều sự chú ý của những nhà soạn nhạc vĩ đại thế kỉ 18. Trong nhiều tác phẩm – bao gồm cả một số bản giao hưởng của Beethoven, contrabass chỉ đảm đương nhiệm vụ giống như violoncello mà thôi. Nhà soạn nhạc duy nhất trong thời kì này viết nhiều tác phẩm cho contrabass là Domenico Dragonetti – cũng đồng thời là một nghệ sĩ biểu diễn contrabass. Ông là nghệ sĩ kiệt xuất vào thời bấy giờ của cây đàn contrabass cũng giống như Nicolo Paganini của cây đàn violin. Sau này những nhà soạn nhạc như Giovanni Bottesine và Serge Koussevitsky cũng viết một số tác phẩm độc tấu cho contrabass.  Hiện nay có thể nói contrabass đang trải qua một thời kì Phục hưng, với nhiều bản concerto được viết cho nó bởi các nhạc sĩ như John Downy, Raymond Luedeke và Robin Holloway. Cây đàn này cũng đang dần có được vị thế trong tứ tấu đàn dây trầm cho 2 viola, cello và contrabass và trong song tấu với violin.
 
Trần Hoàng Hiệp (nhaccodien.info)