Anh: Viola; Pháp: Alto; Đức: Bratsche / Altgeige; Ý: Viola; TBN: Viola; phiên âm tiếng Việt: Vi-ô-la

Viola là một nhạc cụ dây dùng vĩ kéo. Nó đảm nhiệm giọng trung trong họ violin, giữa giọng cao của violin và giọng trầm của violoncello và contrabass. Người ít chơi nhạc có thể nhầm lẫn giữa viola và violin bởi sự giống nhau về kích cỡ, âm vực và tư thế chơi. Tuy vậy âm sắc của viola tương đối khác biệt: ấm, tối và dày hơn so với violin. Viola cũng không phải một nhạc cụ nổi bật so với hai người anh em của nó là violin và violoncello nếu so về vai trò và số lượng tác phẩm.

Cấu tạo
Không giống như violin, viola không có kích thước tiêu chuẩn. Một cây đàn viola trung bình dài khoảng 40 cm.
Thân
Hộp đàn viola hầu như được làm toàn bộ bằng gỗ. Một cây viola truyền thống thường có mặt trước làm bằng gỗ vân sam còn mặt sau, hai bên và cổ làm bằng gỗ thông.
Hai mặt đàn thường được chế tạo thủ công. Để làm hai bên đàn, người ta hun nóng gỗ và uốn quanh các khuôn. Nhìn từ phía trước, thân viola có thể chia làm ba bộ phận: phần trên và phần dưới nở rộng, phần giữa hẹp giới hạn bởi hai chữ C quay lưng vào nhau. Hai khe hình chữ S và ngựa đàn nằm ở gần như chính giữa thân đàn.
Cổ, hộp chốt và cuộn xoắn ốc
Phía trên thân đàn là cổ đàn, tiếp đến là hộp chốt và cuộn xoắn ốc. Cổ đàn, hộp chốt và cuộn xoắn thường được tạc từ một mảnh gỗ nguyên. Gắn liền với cổ đàn và kéo dài xuống đến phần giữa của thân đàn là bàn phím. Bàn phím là một thanh gỗ, thường là gỗ thông, được đẽo cong về hai bên và được dán với cổ đàn. Nơi tiếp nối giữa bàn phím và hộp chốt có một mảnh gỗ nhô lên, đỡ lấy dây đàn, gọi là mấu. Hộp chốt có 4 chốt lên dây. Cuộn xoắn ốc là một bộ phận truyền thống của các nhạc cụ dây. Người ta thường dùng gỗ mun để làm các chốt lên dây, bàn phím và mấu, ngoài ra có thể dùng các loại gỗ khác có màu tối như hoàng dương hoặc hồng mộc.
Chốt mắc dây và  chân đế
Chốt mắc dây gắn ở phần dưới thân đàn. Chốt mắc dây cổ điển được làm bằng gỗ mun hoặc các loại gỗ khác có màu tối, nhưng ngày nay có thể làm bằng nhựa hoặc các vật liệu tổng hợp. Chốt mắc dây vừa dùng để  gắn dây với thân đàn, vừa có thể dùng để lên dây với biên độ hẹp và độ chính xác cao
Ngựa đàn và hai khe chữ S
Ngựa đàn là một mảnh gỗ hoặc nhựa nâng dây đàn lên khỏi mặt đàn và truyền dao động của dây đến que chống và thanh dọc bên trong. Ngựa đàn không bị gắn chặt vào thân đàn mà được các dây đàn giữ ở đúng vị trí. Các khe hình chữ S ở hai bên ngựa đàn, làm nhiệm vụ cho không khí đi vào và đi ra khỏi hộp đàn, tạo nên âm thanh. Ngoài ra các khe hình chữ S còn cho phép tiếp cận với những phần bên trong hộp đàn nếu cần sửa chữa.
Dây đàn
Dây đàn viola trước kia được làm từ ruột ngựa (hoặc trâu, bò, cừu). Ngày nay dây đàn có thể làm bằng ruột động vật, thép hoặc các vật liệu tổng hợp và được bọc ngoài bởi dây kim loại.
Người chơi viola thường phải thay dây khi nó không còn giữ được âm thanh và độ căng như ban đầu. Dây la mỏng nhất nên cũng dễ bị hỏng và đứt nhất.
Dây viola được lên với cao độ do – sol – re – la. Tuy nhiên có lúc viola cũng được lên dây với các cao độ khác. Ví dụ như trong bản Sinfonia concertante cho violin, viola và dàn nhạc, Mozart đã yêu cầu nhạc cụ viola lên dây cao hơn nửa cung so với bình thường.
Những chi tiết bên trong
Bên trong viola có 2 bộ phận quan trọng: que chống và thanh dọc. Que chống bị kẹp giữa mặt trước và mặt sau của đàn, còn thanh dọc thì được dán vào phía trong mặt trước song song với dây đàn. Ngoài chức năng tăng cường sức chịu lực của mặt đàn, hai bộ phận trên còn có tác dụng truyền dao động của dây xuống hộp đàn.
Theo truyền thống, vĩ được làm từ gỗ pernambuco (chất lượng cao) hoặc brazilwood (chất lượng thấp hơn). Cả 2 loại gỗ đều lấy từ cây Caesalpina echinata. Pernambuco là phần gỗ ở lõi của cây và màu tự nhiên đậm hơn. Pernambuco bền và nặng, có tính đàn hồi cao và truyền âm tốt, khiến nó trở thành loại gỗ lí tưởng để chế tạo vĩ. Dây vĩ làm từ lông đuôi ngựa, nhưng cũng có lúc lông nhân tạo được dùng để thay thế. Ngày nay, người ta còn dùng thủy tinh hữu cơ và sợi carbon để làm vĩ. Dây vĩ được phủ cô-lô-phan định kì để làm tăng độ ma sát với dây đàn. Vĩ cần phải được thay dây định kì, chủ yếu là do dây vĩ rất dễ bị mỏng đi do cọ xát trong quá trình chơi đàn. Dây bị chùng cũng cần được để ý. Dây vĩ được kéo căng nhờ một con ốc gắn ở quai (bộ phận mà người chơi giữ lấy khi đang chơi đàn).
Lịch sử cấu tạo
Antonio Stradivari (1644 – 1737), Guiseppe Guarneri (1666 – 1710), Nicolo Amati (1596 – 1684) và con cháu của họ là những nhà chế tạo viola nổi bật nhất vào khoảng thế kỉ 17-18. Trong thời gian này đàn viola có kích thước rất lớn, đến gần 50cm. Tuy nhiên vào đầu thế kỉ 19 những cây viola nhỏ được ưa chuộng hơn đã dần thay thế viola cỡ lớn. Mặc dù trong suốt lịch sử các nhạc cụ thuộc họ violin đã trải qua nhiều thay đổi ở cổ đàn, bàn phím, ngựa đàn và nhiều bộ phận khác nhưng riêng những cây viola cổ vẫn giữ được hình dáng ban đầu được trưng bày ở nhiều viện bảo tàng.
Tư thế chơi
Viola cũng giống như violin cũng có nhiều tư thế chơi, nhưng cách phổ biến nhất là giữ phần đáy của đàn giữa hàm và vai trái, thường qua một tấm tựa cằm gắn trên đàn, một mảnh vải phủ lên đàn hoặc một tấm tựa vai. Người chơi dùng tay trái để bấm nốt và tay phải để kéo (bằng vĩ) hoặc búng dây đàn (pizzicato).
Lịch sử biểu diễn
Trong lịch sử viola ít được sử dụng trong các bản concerto độc tấu và sonata hơn so với violin và violoncello.
Âm nhạc viết cho viola khác với cho các nhạc cụ khác ở chỗ nó thường sử dụng khóa do alto. Các bản nhạc cho viola cũng sử dụng khóa sol khi có những đoạn nhạc viết ở âm vực cao.
Trong nhạc giao hưởng ban đầu, vai trò của viola thường chỉ giới hạn trong hòa âm mà ít có giai điệu riêng. Khi viola được đảm nhận một bộ phận trong giai điệu của âm nhạc thời kì này, nó vẫn chỉ chơi theo giai điệu của các nhạc cụ khác. Một ngoại lệ là Concerto Brandenburg số 6 của J.S. Bach với hai viola chơi giai điệu chính.
Một ví dụ hiếm hoi về âm nhạc cho viola độc tấu là bản Harold ở Ý của Hector Berlioz. Ngoài ra còn có một vài bản concerto thuộc thời kì Baroque và thời kì Lãng mạn của Telemann và Carl Stamitz.
Viola đóng một vai trò quan trọng trong nhạc thính phòng. Mozart đã phần nào độc lập hóa vai trò của viola trong sáu bản ngũ tấu đàn dây của mình. Những bản ngũ tấu đó sử dụng 2 viola, giải phóng nhạc cụ này để biểu diễn những đoạn độc tấu và nâng cao tính phong phú của nhóm hợp tấu. Từ những tác phẩm đầu tiên Johannes Brahms đã sáng tác âm nhạc với vai trò nổi bật của viola. Bản nhạc thính phòng đầu tiên của ông, bản lục tấu đàn dây số 18 có một đoạn gần giống như cho viola số 1 độc tấu. Sau này ông còn viết 2 sonata nổi tiếng cho viola và piano trong tập tác phẩm số 120. Brahms cũng sáng tác Hai lied cho giọng alto với viola và piano (Zwei Gesänge für eine Altstimme mit Bratsche und Pianoforte), Op. 91: “Gestillte Sehnsucht” (Thỏa lòng mong nhớ) và “Geistliches Wiegenlied” (Bài hát ruThánh) đề tặng cho nghệ sĩ violin Joseph Joachim và Amalie – vợ của Joachim. Antonín Dvořák cũng từng chơi viola; âm nhạc thính phòng của ông cũng dành vị trí quan trọng cho viola. Một nhà soạn nhạc người Tiệp Khắc khác là  Bedřich Smetana cho viola đảm nhiệm một vai trò rõ nét trong bản tứ tấu “From My Life” (Từ cuộc đời tôi) mở đầu bằng tiếng viola đầy tình cảm.
Viola cũng có lúc có vị trí nổi bật trong nhạc giao hưởng, ví dụ như khúc biến tấu số 6 trong tổ khúc Enigma Variations  của Edward Elgar.
Mặc dù kho tàng âm nhạc cho viola khá lớn, số lượng tác phẩm cho viola của các nhạc sĩ lừng danh trước thế kỉ 20 tương đối nhỏ. Vì vậy nhiều nghệ sĩ viola phải chơi những bản nhạc chuyển soạn từ những tác phẩm viết cho violin, violoncello hoặc các nhạc cụ khác.
Nửa đầu thế kỉ 20 nhiều nhà soạn nhạc bắt đầu viết cho viola với sự xuất hiện của nhiều nghệ sĩ solo chuyên nghiệp như Lionel Tertis. Các nghệ sĩ người Anh: Arthur Bliss, York Bowen, Benjamin Dale và Ralph Vaughan Williams đều sáng tác nhạc giao hưởng và thính phòng cho ông. William Walton và Béla Bartók đã viết những concerto cho viola nổi tiếng. Một trong số ít những nhà soạn nhạc với số lượng đáng kể các tác phẩm cho viola là Paul Hindemith – một nghệ viola thường biểu diễn các tác phẩm ra mắt lần đầu.  Sonata cho flute, viola và harp của Debussy đã khai mở cho nhiều nhà soạn nhạc khác viết những tác phẩm cho các nhạc cụ trên kết hợp với nhau. Elliot Carter viết nhiều cho viola; bản nhạc Khúc bi thương của ông là một trong nhiều sáng tác cho đàn viola được biết đến và còn được chuyển soạn cho clarinet. Lionel Tertis nói rằng Edward Elgar (tác giả của bản concerto cho cello được Tertis soạn lại cho viola với chương scordatura chậm rãi hơn), Alexander Glazunov (nhạc sĩ táng tác nên Khúc bi thương Op. 44 cho viola và piano), và Maurice Ravel đều đã từng hứa sẽ viết các concerto cho viola nhưng đều qua đời trước khi hoàn thành lời hứa. Vào nửa sau thế kỉ 20 một số lượng lớn các tiết mục cho viola đã được biểu diễn với nhiều nhà soạn nhạc sáng tác các bản concerto cho viola.
Trần Hoàng Hiệp (nhaccodien.info)