Joseph-Maurice Ravel sinh tại thành phố Ciboure, nước Pháp, gần Biarritz, một phần của vùng Basque thuộc nước Pháp, giáp biên giới Tây Ban Nha. Mẹ của ông, Marie Delouart, là người Basque, trong khi cha của ông, Joseph Ravel, là một nhà phát minh và tư bản công nghiệp người Thụy Sĩ. Một vài sáng chế của Joseph Ravel thực sự rất quan trọng, trong số đó có một động cơ đốt trong ở thời kì đầu và chiếc máy gây ồn khét tiếng, “Cơn lốc của thần chết” (một cỗ máy cuốn vành đai tự động đã rất thành công trong những năm đầu thế kỉ XX). Sau khi cả nhà chuyển đến Paris, em trai của Maurice là Edouard ra đời. Ở tuổi lên bảy, cậu bé Maurice bắt đầu những bài học piano và năm hoặc sáu năm sau cậu đã sáng tác những tác phẩm đầu tiên. Cha mẹ Maurice ủng hộ việc theo đuổi con đường âm nhạc của con trai và đã gửi cậu đến nhạc viện Paris, đầu tiên là một sinh viên dự bị và rốt cuộc là một sinh viên chuyên ngành piano. Trong thời gian học tập ở Paris, Ravel tham gia một nhóm những nghệ sĩ trẻ đổi mới, những người tự coi bản thân họ là “những tên côn đồ” (“Apaches”) bởi sự phóng túng ngông cuồng của họ. Nhóm này cũng được biết đến với những cuộc chè chén nhậu nhẹt say sưa.

Tại nhạc viện, Ravel học tập dưới sự hướng dẫn của thầy Gabriel Fauré một cách xuất sắc trong mười bốn năm. Trong khoảng thời gian đó, Ravel đã cố gắng rất nhiều lần mong dành chiến thắng trong cuộc thi Prix de Rome uy tín, nhưng không đạt kết quả. Sau một vụ bê bối liên quan đến việc ông để tuột mất giải thưởng năm 1905 (vào tay Victor Gallois), dù rằng ông được coi là người xứng đáng nhất cho giải này năm đó, Ravel đã rời bỏ nhạc viện. Sự việc này – được báo chí Paris gán cho tên gọi “Vụ Ravel” – cũng là lý do dẫn tới việc từ chức của giám đốc nhạc viện, Théodore Dubois.

Trong khi rất nhiều nhà phê bình khẳng định Ravel chịu ảnh hưởng bởi nhà soạn nhạc Claude Debussy thì bản thân ông lại quả quyết rằng mình chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ Mozart và Couperin, những nhà soạn nhạc mà các tác phẩm của họ có hình thức mang tính cấu trúc và cổ điển hơn. Tuy nhiên Ravel và Debussy rõ ràng là những nhà soạn nhạc mang đậm phong cách của trường phái Ấn tượng. Ravel cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi nhiều hình thức âm nhạc trên thế giới, bao gồm nhạc Jazz của châu Mỹ, âm nhạc châu Á và các ca khúc dân ca truyền thống từ khắp các nước châu Âu. Ravel không theo đạo, có lẽ ông là người vô thần. Ông không thích những chủ đề tôn giáo công khai của các nhà soạn nhạc khác, như Richard Wagner, thay vào đó ông thích coi các yếu tố thần thoại cổ điển như một nguồn cảm hứng. Năm 1907, sau khi công bố lần đầu tiên tác phẩm Histoires Naturelles (Lịch sử tự nhiên), một cuộc tranh luận lớn đã nổ ra. Pierre Lalo phê phán tác phẩm như là một hành động ăn cắp ý tưởng của Debussy, tuy nhiên sự phê phán nhanh chóng chìm vào im lặng sau khi Rhapsodie espagnole được đón nhận với những đánh giá rất cao về mặt phê bình.

Ravel tiếp tục làm việc với biên đạo múa ballet Sergei Diaghilev, người đã dựng vở Mere l’Oye và Daphnis et Chloe. Vở Daphnis et Chloe được Diaghilev dàn dựng với vũ công tài năng Vaslav Nijinsky đảm nhiệm vai chính. Tuy nhiên Ravel vẫn tiếp tục giữ mối thù ghét của ông đối với các tổ chức âm nhạc Pháp: Năm 1920, chính phủ Pháp trao tặng ông huân chương Bắc đẩu bội tinh, nhưng Ravel đã từ chối. Chẳng bao lâu Ravel lui về vùng quê nước Pháp, ở đó ông tiếp tục viết nhạc dẫu không còn nhiều như trước.

Năm 1928, Ravel bắt đầu chuyến lưu diễn piano vòng quanh nước Mĩ lần đầu tiên. Tại thành phố New York, ông đã nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt từ khán giả, ông nhận xét rằng nó rất khác so với bất kỳ một buổi công diễn tẻ nhạt nào của ông tại Paris. Cùng năm đó, trường đại học Oxford đã phong tặng ông danh hiệu tiến sĩ danh dự của trường.

Ravel không bao giờ kết hôn, nhưng ông đã có một vài mối quan hệ lâu dài. Những học trò ít ỏi của Ravel có Maurice Delage và Ralph Vaughan Williams. Mặc dù Maurice xem hình dáng nhỏ bé và nhẹ cân của mình là một lợi thế để trở thành phi công, nhưng trong suốt Thế chiến thứ nhất ông không được chấp nhận gia nhập quân đội như một phi công vì lý do sức khỏe và tuổi tác. Thay vào đó trong thời gian quân ngũ Ravel lái xe tải. Ông đặt tên cho chiếc xe của mình là “Adelaide” – đây cũng là tên một lied rất nổi tiếng của Beethoven. Hầu hết những tài liệu tham khảo về việc Ravel đã lái loại xe nào trong chiến tranh đều chỉ ra rằng đó là một chiếc xe chở pháo hoặc xe tải thông thường. Không có tài liệu nào nói rằng ông lái một chiếc xe cứu thương.

Vào năm 1932, một vụ tai nạn ô tô đã làm sức khỏe của Ravel suy yếu dần vài năm sau đó. Số lượng các tác phẩm ông viết giảm xuống đột ngột. Năm 1937, ông trải qua một cuộc phẫu thuật thần kinh với hy vọng sẽ phục hồi sức khỏe, nhưng cuộc phẫu thuật đã thất bại. Ông mất sau đó không lâu và được chôn cất tại Levallois Perret (khu phía Tây Paris, nước Pháp).

Về phong cách âm nhạc Ravel tự nhìn nhận mình là một người theo trường phái cổ điển theo nhiều cách. Ông tin tưởng vào những hình thái và cấu trúc truyền thống trong cách thể hiện những hòa âm mới mẻ và sáng tạo của mình. Ông thường che giấu những phần riêng trong cấu trúc tác phẩm bằng những đoạn chuyển dịch – để ngụy trang cho những đoạn bắt đầu của nhạc tố. Điều này rõ ràng trong tác phẩm Valses nobles et sentimentales (Những điệu Waltz tinh tế và đa cảm) của ônglấy cảm hứng từ các tuyển tập của Franz Schubert là Valses nobles và Valses sentimentales, mà 7 phần mở đầu và kết thúc mà không hề có tạm nghỉ. Còn trong các tác phẩm âm nhạc thính phòng của ông, rất nhiều chương ở hình thức sonata-allegro, ẩn giấu sự thay đổi từ những phần phát triển đề tài cho tới phần tóm tắt lại.

Mặc dù âm nhạc của Ravel mang điệu tính, nó đã là một bước tiến trong thời kì đó. Cùng với trường phái âm nhạc Pháp với một vài tên tuổi tiên phong như Chabrier, Satie và Debussy, những giai điệu của Ravel gần như mang một hình thái độc đáo rất riêng. Khi sử dụng gam trưởng hoặc gam thứ, ông xử lý chúng theo một cách thức riêng (cách thức hòa âm và phối khí, theo thứ tự định sẵn). Kết quả là gần như không có các âm chủ đạo trong tác phẩm của ông. Với những giai điệu du dương, ông thiên về hai điệu ưa thích: điệu Dorian và điệu Phrygian (thuộc cổ Hy Lạp). Ravel cũng không bao giờ bị lệ thuộc vào một hình thức đặc trưng nào đó; ông sử dụng rộng rãi các hòa âm và sự thăng giáng phức tạp vượt ra ngoài những cách thực hiện thông thường. Ravel rất thích các gam thứ 9 và thứ 11, tính gay gắt của các hòa âm phần lớn là kết quả của việc Ravel ưa thích những nốt nghịch (hãy nghe Valses Nobles et Sentimentales). Trong những bản nhạc dành cho piano của Ravel, một vài bản được chú ý bởi sự thách thức về kỹ thuật chơi (như tác phẩm Gaspard de la nuit) và là sự mở rộng của cách chơi đàn điêu luyện theo kiểu Liszt. Tuy nhiên, thậm chí là những tác phẩm khó nhất của ông, chúng cũng đều mang dấu ấn của sự thanh nhã và tinh tế. Ông bị lôi cuốn bởi nhiều điệu nhảy khác nhau, trong đó ông rất yêu thích điệu minuet. Một vài điệu khác cũng được Ravel dùng làm tư liệu trong các tác phẩm của mình như điệu forlane, rigaudon, waltz, czardas, habanera, passacaglia và điệu boléro.

Ravel hầu như luôn được xem là một trong hai nhà soạn nhạc trường phái Ấn tượng Pháp (người kia là Debussy), nhưng thực tế, ông còn hơn nhiều một nghệ sĩ trường phái ấn tượng đơn thuần. Trong tác phẩm A la maniere de…Borodine (Theo phong cách của Borodine) của ôngRavel đã biểu diễn với một khả năng bắt chước mà vẫn giữ được nguyên gốc. Ở một tình thế phức tạp hơn, A la maniere de…Emmanuel Chabrier /Paraphrase sur un air de Gounod (“Màn thứ 2 của Faust”), Ravel lấy chủ đề từ nhân vật Faust của Gounod và biến đổi nó theo phong cách của Emmanuel Chabrier. Thậm chí khi viết với phong cách của người khác thì chất giọng của riêng Ravel vẫn dễ nhận như một nhà soạn nhạc.

Ravel rất tỉ mỉ trong việc viết bản thảo. Không may lúc đầu những ấn bản của ông dễ bị lỗi. Như thế, ông lại cẩn thận ngồi làm việc lại với nhà xuất bản của mình, Durand, để sửa lại chúng. Trong một bức thư, Ravel đã viết rằng khi in thử bản L’enfant et les sortilèges, sau khi rất nhiều biên tập viên đã chỉnh lý lại vở opera một màn này, ông vẫn tìm ra mười lỗi trên mỗi trang. Mỗi một tác phẩm đều được xem xét cẩn thận, mặc dù Ravel vẫn mơ ước, giống như những nhà soạn nhạc trong lịch sử mà ông ngưỡng mộ, có thể viết được một số lượng tác phẩm thật lớn. Đã có lần Igor Stravinsky nhắc tới Ravel như một “Nhà sản xuất đồng hồ Thụy Sĩ”, một sự ám chỉ những tác phẩm tinh tế và chính xác của Ravel.

Bề ngoài, âm nhạc của Ravel chịu ảnh hưởng bởi Debussy, nhưng cũng có thể thấy âm nhạc Nga, Tây Ban Nha và nhạc jazz của nước Mĩ được phản ánh trong chương mang tên Blues từ bản sonata giọng Son trưởng dành cho violin. Đã có lần ông tuyên bố mình không bao giờ viết một bản nhạc nào không bị ảnh hưởng bởi Edvard Grieg.

Vào năm 1928, Ravel viết rằng các nhà soạn nhạc nên nhận thức được cả về ý thức cá nhân và dân tộc. Năm đó Ravel đến Mĩ và Canada bằng tàu hỏa, ông biểu diễn độc tấu piano tại các phòng hòa nhạc lớn ở 20 thành phố. Khi thấy những nhà soạn nhạc Mĩ miễn cưỡng coi nhạc Jazz và Blue là phong cách âm nhạc dân tộc, ông phát biểu “nỗi sợ hãi lớn nhất của họ là thấy bản thân phải đối mặt với những thôi thúc không lý giải được phá bỏ những quy luật kiểu học thuật hơn là gây ra sự nhầm lẫn về nhận thức cá nhân. Bởi vậy sau đó, chính những nhạc sĩ này, làm rất tốt theo kiểu trưởng giả, họ sáng tác âm nhạc theo những quy luật cổ điển của châu Âu”. Khi nhà soạn nhạc người Mĩ George Gershwin gặp Ravel, đề cập đến mong muốn nghiên cứu và học tập với nhà soạn nhạc người Pháp nếu có thể. Người Pháp này vặn lại, “Tại sao ông lại nên làm một Ravel hạng hai trong khi ông có thể trở thành một Gershwin hạng nhất?”

Hai concerto dành cho piano của ông, theo nhiều cách, đã phản ánh phong cách của Gershwin. Trong Concerto giọng Son trưởng, Ravel đã nói rằng các concerto của Mozart và Saint-Saëns phù hợp với hình thức âm nhạc của ông. Trước 2 bản concerto này, ông đã có ý định viết bản concerto Zazpiak Bat, tuy nhiên ông đã không hoàn thành nó. Tựa đề này phản ánh sự kế thừa dòng máu Basque trong ông, có nghĩa là “Bảy là một” (‘The Seven Are One”), nó nói về bảy vùng đất Basque và là một câu cách ngôn được sử dụng thường xuyên để liên tưởng tới dân tộc Basque. Những ghi chép và những phần chưa hoàn thành còn sót lại cũng khẳng định rằng concerto này bị ảnh hưởng sâu sắc bởi âm nhạc Basque. Từ bỏ bản Zazpiak Bat, thay vào đó ông đưa ý tưởng về nó vào những chủ đề và giai điệu dân tộc trong các tác phẩm khác sau này.

Ravel nhận xét rằng André Gédalge, một giáo sư của ông về đối âm, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển các kỹ năng của ông với vai trò một nhà soạn nhạc. Là một nhạc công chơi trong dàn nhạc, Ravel đã nghiên cứu khả năng của từng nhạc cụ một cách kỹ lưỡng để định rõ hiệu quả tích cực của chúng. Điều này có thể giải thích sự thành công của ông trong việc chuyển soạn những tác phẩm sang cho dàn nhạc, cả những bản piano do ông viết hay của các nhà soạn nhạc khác như Modest Mussorgsky.

Hương Giang (nhaccodien.info) tổng hợp