Exsultate, jubilate, K.165

Tác giả: Wolfgang Amadeus Mozart
Công diễn lần đầu: ngày 17/01/1773 tại nhà thờ San Antonio ở Milano
Thời lượng: khoảng 14 phút

 Trong số các tác phẩm viết cho thanh nhạc của Wolfgang Amadues Mozart, có một tác phẩm được ông sáng tác từ khi còn rất trẻ, đó là khúc motet “Exsultate, jubilate” (K.165). Tuy nhiên, đây lại là tác phẩm rất được thính giả ưa thích vì những nốt nhạc đẹp tuyệt vời, giai điệu biến chuyển phong phú.

 Tác phẩm được trình diễn lần đầu tiên tại nhà thờ San Antonio ở Milano vào ngày 17 tháng 1 năm 1773, khi Mozart vừa buớc qua tuổi 17 được vài ngày. Mặc dù đây chỉ là một tác phẩm ngắn (khoảng 14 phút), không phải là một vở opera, thế nhưng nó lại được trình diễn thường xuyên nhất. Tác phẩm phản ánh phong cách sáng tác của Mozart thời kì đầu, khi mà phong cách opera Ý là trung tâm. Dù có nhiều tác phẩm hiếm thuộc phong cách opera Ý (thời kì sơ khai) được chuyển ngữ sang tiếng Latin nhưng không tác phẩm nào được ưa thích như “Exsultate, jubilate”.

 Từ “motet” thường được dùng để chỉ những tác phẩm hợp xuớng thời kỳ Phục Hưng hơn là những tác phẩm như “Exsultate, jubilate”, nhưng với Mozart thì lại khác. Một nhà soạn nhạc đương thời đã viết: ”Trong tiếng Ý, “motet” chỉ những cantata bằng tiếng Latin, bao gồm 2 aria và 2 khúc hát nói, rất giống với Alleluia, được hát trong dịp lễ Mixa (Mass), sau Credo… Một bản motet không giống với một aria tươi sáng. Tuy nhiên, nhìn chung thì những bản motet với khúc mở đầu tươi vui thường được cho phép trình diễn trong các nhà thờ Thiên Chúa thường xuyên hơn các nhà thờ Tin Lành”. Theo Künster thì dường như có sự tương đồng giữa “Exsultate, jubilate” với bản cantata viết cho giọng nữ cao của Bach – “Jauchzet Gott in allen Landen”. Thành công với một tác phẩm có cấu trúc các chương rõ ràng như vậy là cơ sở vững chắc, báo hiệu những điều kì diệu của Mozart trong các concerto viết cho khí nhạc sau này.

 Ắt hẳn tất cả những người yêu thích âm nhạc của Mozart, dù thanh nhạc hay khí nhạc đều tìm thấy sự thích thú với tác phẩm này. Thế nhưng có một câu chuyện ít người biết đến về “Exsultate, jubilate”, đó là không chỉ có 1 bản mà đến 3 phiên bản khác nhau của tác phẩm này. Bản nguyên gốc của “Exultate, jubilate” – bản Milano, là bản được trình diễn nhiều nhất. Hai bản kia ít được biết đến hơn nhiều, ta tạm gọi là Salzburg 1 và Salzburg 2. Chúng thậm chí còn không được đề cập đến trong danh mục các tác phẩm của Mozart; và trong một cuộc thăm dò không chính thức với 12 giọng nữ cao và nữ trung nổi tiếng thường biểu diễn bản Milano, không ai trong số họ biết đến sự tồn tại của 2 phiên bản kia.

Sự ra đời 3 phiên bản khác nhau

 Vào ngày 13 tháng 12 năm 1769, một tháng sau sinh nhật lần thứ 14 của mình, Mozart đã rời Slazburg, lên đường đến Ý lần đầu tiên. Cùng đi có ông Leopold – cha của Mozart. Chuyến đi này của Mozart kéo dài hơn 15 tháng và có rất nhiều sự kiện, bao gồm việc ông được Giáo hoàng Clement XIV phong tước hiệp sĩ (do đó mà trong tên Mozart có thêm cụm Richter von…), được nhận vào dàn nhạc Bologna và Verona. Trong chuyến đi này, Mozart có dịp nghe tác phẩm Miserere của Gregio Allegri (ngày 11 tháng 4 năm 1770, là thứ tư của tuần thánh) tại nhà thờ thánh Sistine. Tác phẩm này được viết cho 4 hoặc 5 bè và đoạn kết dành cho hợp xướng 9 bè. Đây có lẽ là tác phẩm xuất sắc nhất trong âm nhạc nhà thờ thời đó.

 Nhưng nếu xét theo khía cạnh âm nhạc thì sự kiện đáng chú ý nhất trong chuyến đi là sự ra đời của tác phẩm opera seria đầu tiên của Mozart, đó là Mitridate, re di Ponto (K.87). Tác phẩm ra mắt vào ngày 26 tháng 12 năm đó, được đón nhận nồng nhiệt, kéo dài suốt 20 buổi diễn. Thành công đó đã khiến ông được đặt viết một opera thứ hai cho mùa trình diễn 1772-1773. Thế nhưng cũng vì bản hợp đồng này mà suýt nữa “Exsultate, jubilate” đã không bao giờ được viết.

 Ngay sau khi trở về Salzburg sau chuyến đi Italia, Mozart được nữ hoàng Maria Theresa đặt viết một tác phẩm cho đám cưới của con trai bà – hoàng tử Ferdinand. Đám cưới sẽ diễn ra ở Milan vào tháng 10 năm 1771. Do đó, hai cha con Mozart trở lại Milan vào tháng 8. Sau đó, tác phẩm serenate teatrale “Ascanio in Alba” ( K.111) đã thành công rực rỡ, thậm chí còn lấn át cả vở opera được viết riêng cho đám cưới – vở Ruggiero của Johann Adolf Hasse. Phấn khởi với thành công này, Mozart trở về Salzburg nhưng để đón nhận một tin dữ: Sigismund Christoph von Scrattenbach – hoàng thân, đồng thời là tổng giám mục Salzburg và là nhà bảo trợ của Mozart, đã mất. Sau đó, Hieronymus Colloredo được bầu làm tổng giám mục thay thế vào ngày 14 tháng 3 năm 1772.

 Nếu các bạn có theo dõi bộ phim Amadues về cuộc đời Mozart thì giám mục Colloredo được miêu tả như một con quái vật và điều này là một trong số ít những điều chính xác nhất so với thực tế của bộ phim. Ông ta bắt nhà Mozart phải dùng gần hết thời gian để chơi nhạc phục vụ nhà thờ, thời gian để Mozart sáng tác (trừ một vài tác phẩm tôn giáo) gần như là không có. Do đó, vở opera đã được đặt viết cũng như chuyến đi Ý tưởng như đã không thành. Trong suốt thời gian đó, Mozart chỉ có một chuyến đi ngắn tới Vienna vào năm 1773 và tới Munich năn 1775 theo lệnh của hoàng tử xứ Bavaria – Maximilian Josef, tất nhiên mệnh lệnh này là bắt buộc, kể cả với tổng giám mục. Thật may mắn là vào năm 1777, mặc dù tổng giám mục đã từ chối thẳng thừng lời khẩn cầu của Mozart khi ông muốn thực hiện một chuyến đi khác nhưng cuối cùng, Colloredo cũng giải thoát cha con nhà Mozart. Chuyến đi sau đó của Mozart đi qua Munich, Mannheim và Paris; trong chuyến đi này, mẹ của ông đã ngã bệnh và mất tại Paris. Mozart trở về Salzburg vào năm 1779 trước khi đi một chuyến nữa vào tháng 5 năm 1781. Dường như là trong thời gian này, phiên bản Salzburg 1 và Salzburg 2 ra đời.

 Trở lại câu chuyện về vở opera được đặt viết ở Milan, chính nhờ opera này – Lucio Silla ( K.135), mà Mozart mới được trở lại Ý lần thứ 3. Ông tới Milan vào ngày 4 tháng 11 năm 1772, khi đó Mozart mới 16 tuổi. Tại buổi công diễn lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 12 năm 1772, với castrator Venanzio Rauzzini đóng vai Cecilio, vai chính của vở opera; và theo lời ông Leopold thì “Rauzzini hát như một thiên thần!”. Vở diễn được hưởng ứng nhiệt liệt, công diễn được 20 buổi, bằng với số lượng buổi diễn của Mitridate; nhưng dường như 1 trong 2 tác phẩm có chất lượng vượt trội hơn. Thực tế thì Lucio Silla là một vở opera rất tầm thường, không gợi lên được cảm hứng gì. Chính vì chất lượng kém cỏi của vở opera này mà Mozart không có được một lời mời nào nữa sau Lucio Silla.

 Sau buổi công diễn vở Lucio Silla, cha con Mozart cố gắng tìm kiếm địa vị cho mình ở Ý. Đầu tiên là làm việc cho đại công tước Leopold của xứ Tuscany. Tuy nhiên, mọi việc không được như mong đợi và, môt cách miễn cưỡng, cha con Mozart đành phải trở về Salzburg vào tháng 3 năm 1773.

 Do đó, từ buổi công diễn lần đầu tiên của Lucio Silla cho tới ngày 17 tháng 1 năm 1773 là một khoảng thời gian đầy khó khăn; nhưng chính trong khoảng thời gian đầy buồn chán đó thì “Exsultate, Jubilate” đã ra đời. Tác phẩm dường như là sinh ra để dành cho Rauzzini. Sự phức tạp của tác phẩm có thể làm tôn lên chất giọng rực rỡ của bất kì ca sĩ nào có khả năng hát nó, vì vậy chúng ta cũng phần nào hình dung được chất giọng tuyệt vời của Rauzzini vào thời điểm đó. Nhưng, nhìn chung thì “Exsultate Jubilate” có âm vực khá thầp so với khả năng của một soprano, chỉ lên tới nốt La của khoá cao, tuy nhiên đa số các soprano ngày nay thường nâng nhịp cuối lên một quãng tám, nên có thể lên tới nốt Đố. Trong khi đó, các mezzo soprano lại rất hay dịch xuống 1 nốt hoặc hơn nữa, từ Fa xuống Mi giáng, thậm chí xuống luôn Rê. Mozart đã tạo nên một bản hoà âm tuyệt vời, tuy nhiên đến nay người ta vẫn chưa tìm ra tác giả của phần lời và năm sáng tác nó. Xem xét ngôn ngữ của phần lời thì dường như nó ra đời truớc năm 1753, năm mà một tác phẩm thuộc thể loại Mottetto Canto solo có tên “Exsultate, Jubilate” xuất hiện trong ngày hội âm nhạc Munich. Tác phẩm đó là của Giovanni Batista Porta và đã bị thất truyền.

 Trong khoảng những năm từ 1766 tới 1772, với vai trò là ca sĩ chính của dàn nhạc hoàng gia Munich, dường như Rauzzini đã đưa phần lời cho Mozart để ông viết một tác phẩm mới. Do đó, Rauzzini cũng góp một phần rất quan trọng giúp “Exsultate, Jubilate” ra đời. Thực tế Rauzzini cũng là một nhà soạn nhạc, nhưng những tác phẩm của ông khó có thể coi là hay để có thể lưu truyền tới ngày nay.

 Thế nhưng tại sao “Exsultate, Jubilate” được sáng tác vào thời điểm này? Tất nhiên đầu tiên là vì có người đã cung cấp phần lời và đang mong chờ nó – Rauzzini. Lý do thứ hai, quan trọng hơn, là do không khí âm nhạc của Ý lúc đó quá khác biệt so với Salzburg – nơi mà Mozart phải van nài tổng giám mục Colloredo để được viết những nốt nhạc đang nhảy múa trong đầu ra thành bản nhạc, trong khi tại Milan, Mozart như được giải phóng, có cảm hứng để viết nhiều tác phẩm hay. Vào thời kỳ đó, Ý là trung tâm âm nhạc của châu Âu. Trong khi tại Vienna, âm nhạc không phải là một thứ quá quan trọng. (Thời kỳ thịnh vượng nhất của âm nhạc Vienna với các nhà soạn nhạc Mozart, Beethoven, Schubert, Brahms, Strauss v.v… chỉ bắt đầu từ năm 1781, khi Mozart đến Vienna.)

 Đó là câu chuyện về sự ra đời của “Exsultate, Jubilate” – bản Milano, còn hai bản Salzburg 1 và Salzburg 2 được tìm thấy tại nhà thờ Stadtpfarrkirche St. Jakob ở Wasserburg am Inn, một làng nhỏ gần Salzburg. Không ai biết tác giả phần lời của 2 phiên bản này là ai. Ba phiên bản trong tập sách nhạc Bärenreiter có sự khác biệt ở nốt cuối thứ 4, các bản Salzburg 1 và Salzburg 2 cũng khác bản Milano ở khúc dạo đầu, theo đó, flute kiểu Áo thay thế cho oboe kiểu Ý. Dễ thấy rằng bản Salzburg 1 được viết để biểu diễn lần đầu tiên vào ngày 30 tháng 5 năm 1779 trong ngày chủ nhật Ba Ngôi (Trinity Sunday), trong dịp lễ Mass, tại nhà thờ Ba Ngôi, ca sĩ là castrato Francesco Ceccarelli. (Theo nhật ký của Nannerl Mozart, chị của Mozart thì vào ngày hôm đó, 2 cha con cô đã ăn trưa tại một ngôi nhà sát với nhà thờ.) Một điều thú vị là dường như tác phẩm “bắt buộc” phải chuyển lên tông cao hơn, đến Xon trưởng, bởi vì cây đàn organ trong nhà thờ Ba Ngôi được chỉnh âm cao hơn hẳn. Do đó, có thể kết luận rằng Ceccarelli đã không thay đổi đoạn cuối, cũng theo lời Nannerl thì Mozart đã không chơi đàn organ trong ngày hôm đó, dù chuyển cung bản nhạc không phải là vấn đề lớn đối với ông. Bản Salzburg 2 được sáng tác để biểu diễn trong dịp Giáng Sinh nhưng đáng tiếc là nó chưa bao giờ được biểu diễn.

 Chúng ta biết rằng tổng giám mục Colloredo chắc chắn sẽ không lấy làm vui vẻ gì khi Mozart sáng tác những những tác phẩm ngoài âm nhạc dành cho nhà thờ. Do đó mới có sự ra đời của 2 bản Salzburg. Bản Milano có âm nhạc rất thần thánh, đôi khi mơ hồ, lời ca tụng niềm vui, thích hợp để biểu diễn trong dịp Thánh Đản. Tuy nhiên, tổng giám mục muốn những giai điệu này cũng có thể vang lên vào những dịp khác, do đó Mozart đã viết bản Salzburg 1. Nhưng cũng có một điều chưa rõ ràng là bản Salzburg 2 được sáng tác với mục đích gì, trong khi đã có một bản rất thích hợp để biểu diễn trong dịp Thánh Đản như bản Milano? Có lẽ là do phần lời của bản Milano không rõ ràng với tín ngưỡng đơn giản của tổng giám mục. Ngày nay, vì “Exsultate, jubilate” quá được yêu thích nên nó được coi là một tác phẩm hòa nhạc hơn là một tác phẩm chỉ được trình diễn trong các dịp lễ (ví dụ như Messiah) , tuy rằng về thực chất đó vẫn là một tác phẩm để trình diễn trong các dịp Thánh Đản.

 Thế nhưng, buổi biểu diễn đầu tiên của “Exsultate, jubilate”, diễn ra vào Chủ nhật, ngày 17 tháng 1 lại không phải là dịp Thánh Đản. Dịp lễ lạt gần nhất là lễ Hiển Linh, đã kết thúc với đêm thứ 12 – diễn ra vào ngày 6 tháng 1. Ngày 17 tháng 1 là ngày lễ Hiển Linh của Thánh Anthony và do vậy “Exsultate, Jubilate” có lẽ được biểu diễn nhân dịp này. Nơi biểu diễn là nhà thờ San Antonio Abate ở Milan, nằm ở Via San Antonio, không xa Doumo lắm và nhà thờ này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Vào thời Mozart, nhà thờ này vẫn chịu sự quản thúc của một hội đồng tu sĩ (tiếng Ý là Theatini). Sự quản thúc rất nghiêm khắc này sau đó đã được Napoleon bãi bỏ vào năm 1798, nhưng những những người khó tính nhất ắt hẳn cũng vui vẻ khi cùng nhau chào mừng ngày lễ tôn vinh Đức Cha sáng lập. Các hội đồng tu sĩ có nhiệm vụ truyền giáo thông qua thuyết giảng, khai sáng và tiến hành các nghi thức tôn giáo.

 Vào dịp này, sự mơ hồ của  phần lời trong “Exsultate, jubilate”, nhất là aria đầu tiên khiến nó được hiểu theo một cách khác. Phần recitavo như một buổi bình minh tươi sáng, đối nghịch với nỗi thống khổ và những cám dỗ mà thánh Anthony phải trải qua trong đêm đen sa mạc. Mặc dù chúng ta không có nhiều tài liệu về buổi biểu diễn đầu tiên này nhưng buổi biểu diễn lần 2 vào ngày 28 tháng 5 thì lại được linh mục Giambattista Borrani ghi chép khá đầy đủ như là một sự kiện đương thời. Ngày 28 tháng 5, tại nhà thờ San Antonio Abate, một buổi lễ tôn nghiêm đã diễn ra, để ban phước cho Paolo Burali, giám mục xứ Picenza, sau đó Giáo chủ Hồng Y của nhà thờ Thánh, và cuối cùng là tổng giám mục xứ Naples. Nhà thờ được thắp sáng bằng 20 ngọn đuốc lớn. Đức cha Asti Teatino chủ trì buổi lễ với phong thái tuyệt vời và nhiệt huyết trong từng lời nói, hành động. Phần cầu kinh được Monsignor Gallarati – giám mục nhà thờ Pavos ở Pontibus hát một cách đầy trang trọng. Mở đầu là Te Deum, tiếp theo là một vài tác phẩm âm nhạc khác và một sinfonia.

 Buổi lễ được đón chào trong sự vui sướng, hân hoan của mọi người vì đó là mở đầu của mùa lễ hội trong năm. Những lễ hội này thường được gia đình Lombardy tài trợ, tất nhiên là họ cũng có mặt trong buổi lễ trên. Mối quan hệ này cho thấy sự tương quan giữa âm nhạc nhà thờ với các tác phẩm opera và thính phòng. Trở lại với “Exsultate, jubilate”, ắt hẳn Mozart và Rauzzini phải chạy đua khủng khiếp để kịp ngày diễn, vì buổi mở màn của Lucio Silla là ngày 26 tháng 12, lại diễn ra trong hơn 20 buổi liên tiếp. Gần như là vở diễn vừa khép màn đêm hôm trước thì sáng hôm sau họ đã phải biểu diễn một tác phẩm mới hoàn toàn, do đó, có thể phỏng đoán rằng tác phẩm được viết và tập luyện ngay khi Rauzzini vẫn ngày ngày biểu diễn Lucio Silla.

 Chúng ta không có tài liệu cho thấy khán giả của buổi lễ hôm đó gồm những ai. Nhưng vì ngày lễ thánh Anthony là ngày của sự khuyên giải và hoà hợp, lại là ngày mở đầu mùa lễ hội cho nên đây là dịp được tất cả mọi người mong chờ. Có thể tưởng tượng rằng trong nhà thờ có rất nhiều người, bao gồm nhiều thành phần xã hội. Đó là những người chăn cừu, nông dân đến cầu nguyện cho gia súc của mình (đặc biệt là lợn, con vật gắn liền với thánh Anthony khi ông được phong tước San Antonio ‘del Portcello  – theo tiếng Milan), cho đến những nhà quí tộc. Dù phần lời của tác phẩm tỏ ra khá khó hiểu so với đa số mọi người hiện diện, nhưng giai điệu và hoà âm lại rất hân hoan, phù hợp với không khí lễ hội lúc đó.

 Bây giờ chúng ta sẽ xem xét những bản thu của “Exsultate, jubilate”. Vì đây là một tác phẩm rất được yêu thích nên nó được thu âm thường xuyên. Tuy nhiên, ta cần lưu ý là : không có phiên bản Salzburg 2 nào được thu âm cả.

 Một bản trong số đó với phần lời Salzburg 1 do nhạc trưởng Christopher Hogwood chỉ huy dàn Academy of Ancient Music cùng với giọng ca của Emma Kirby. Đây có lẽ là bản thu theo phong cách thế kỷ 18 đích thực, trong đó tránh dùng kỹ thuật vibrato, trừ một vài đoạn cần tạo sự nổi bật. Hơn nữa, bản thu được giữ nguyên gốc, bao gồm cả nốt Đố ở cuối.

 Có một bản thu phiên bản Minano do soprano Barbara Bonney trình diễn cùng dàn nhạc Concentus Musicus Wien, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng nổi tiếng Nikolaus Harnocourt (hãng Teldec, số 4509-95985-2). Bản thu này gần gũi với âm nhạc nhà thờ hơn, đồng thời cũng làm nổi bật âm nhạc của dàn nhạc với những nhạc cụ nguyên gốc. Khúc recitavo chỉ được minh hoạ bằng organ, không có dàn dây, càng làm dậy lên không khí nhà thờ của tác phẩm. Tuy giọng hát của Bonney rất rực rỡ nhưng cô lại dùng phiên ấm tiếng Đức cho phần lời, rõ ràng là thất bại nếu cô muốn thể hiện cái không khí âm nhạc của Milan thời kỳ đó cũng như lòng nhiệt thành của người nhạc sĩ trẻ, đang tràn đầy niềm yêu mến nước Ý. Vậy thì, cái gì tạo nên không khí âm nhạc đích thực của tác phẩm ? Đó là chưa kể đến việc Bonney đã thay đổi đoạn cuối và hầu như bản thu âm này không khác gì so với bản thu với dàn nhạc English Concert, nhạc trưởng Trevor Pinnock (hãng Archiv, số 445 353-2), chỉ khác là chất luợng thu cao hơn.

 Một bản thu rất tuyệt khác là bản thu trong đó nhạc trưởng John Eliot Gardner chỉ huy dàn nhạc English Baroque Soloists, cùng với soprano Sylvia McNair (hãng Philips, số 434 920-2). Trong bản thu này, kỹ thuật legato êm ái cùng giọng hát tuyệt vời của McNair tạo cho chúng ta những ý niệm rõ ràng nhất về phong cách đích thực của âm nhạc thế kỷ 18. (Sẽ thú vị hơn nếu chúng ta có thể nghe hết cả những tác phẩm của Handel cũng nằm trong CD này để thấy cô đã vận dụng kỹ thuật vibrato thuần thục và điêu luyện như thế nào để thích ứng với 2 phong cách âm nhạc cách nhau đến 65 năm !) Trong “Exsultate, jubilate” cô sử dụng nhiều vibrato hơn Kirby (nói đúng hơn là khi nghe Kirby hát, chúng ta chả thấy kỹ thuật vibrato ở đâu cả!!!), đặc biệt là aria đầu tiên. Nhưng đáng tiếc là cô đã thay đổi đoạn cuối, nếu không thì đây đã là một bản thu hoàn hảo – với âm nhạc tuyệt vời của kèn horn và dàn dây trong phần recitavo.

 Các bản thu được đề cập sau đây đều có phần lời Milano, tất cả đều có khóa nhạc đúng nguyên gốc và phần cuối bị thay đổi. Có thể có nhiều bản thu khác nữa mà các bạn có thể yêu thích thế nhưng trong 4 bản mà chúng tôi đề cập đến sau đây, bản hay nhất có lẽ là của Felicity Lott (CD DCA 683). Biểu diễn cùng với cô là dàn nhạc London Mozart players, chỉ huy Jane Glover. Bản nhạc được thu năm 1989, khi mà giọng hát của cô vẫn còn tươi trẻ và tràn đầy sinh lực. Một bản thu khác là của Cecilia Bartoli, cùng dàn nhạc Vienna Chamber Orchestra, chỉ huy Gyögy Fischer (hãng London, số 443 452-2). Đây là một bản thu tiêu biểu của Bartoli, với kỹ thuật staccato điêu luyện; đây có lẽ là bản thu ít giống với âm nhạc nhà thờ nhất. Cô đã hát theo nguyên gốc, dù chỉ là một mezzo-soprano nhưng cô cũng lên được tới nốt Đố sau cùng một cách không khó khăn gì. Một bản thu khác là của Kathleen Battle, cùng dàn nhạc Royal Philhamonic Orchestra và chỉ huy Andrè Previn. Bản nhạc được thu năm 1986, trong đó Battle thể hiện một phong cách hát quá giống opera, với kỹ thuật vibrato quá nặng so với đôi tai của thính giả. Vấn đề này cũng có thể bắt gặp trong bản thu của Kiri Te Kanawa, dàn nhạc London Symphony Orchestra, chỉ huy Sir Colin Davis (hãng Philips, số 412 873-2) với những âm láy rất “dồn dập”. Tuy nhiên, vì một tác phẩm tôn giáo như “Exsultate, jubilate” được hình thành trong thời kỳ mà opera mới chập chững những bước đi đầu tiên nên ta cũng có thể chấp nhận được việc nó được hát theo một phong cách hơi giống opera.

Dưới đây là 3 phiên bản lời “Exsultate, Jubilate” cùng bản dịch :

Bản Milano:

Aria 1:

Exsultate, jubilate,

o vos animae beatae,

exsultate, jubilate,

dulcia cantica canendo;

cantui vestro respondendo

psallant aethera cum me.

Hãy hân hoan hát lên,

Hỡi những tâm hồn được phù hộ,

Hãy hân hoan hát lên,

Và hãy cất lên tiếng ca.

Khi ta cất lên tiếng ca

Thì thiên đuờng cũng sẽ hát lên. 

 

Recitativo:

Fulget amica dies,

jam fugere et nubila et procellae;

exortus est justis inexspectata quies.

Undique obscura regnabat nox,

surgite tandem laeti qui timuistis adhuc,

et jucundi aurorae fortunatae

frondes dextera plena et lilia date.

Ngày mới đang bừng lên

Mây mù và dông tố đã lùi xa;

Để đánh thức đạo đức con người 

Xua tan đi bóng tối ngự trị;

Hãy đứng dậy, hỡi những con người còn sợ hãi,

Và cùng hân hoan đón chào bình minh

Trao nhau những vòng hoa bằng những bàn tay đang bừng sáng.

Phần lời trên mang hơi thở của đạo Cơ Đốc, được viết với cấu trúc đơn giản như những bản thánh ca khác. Thế nhưng không giống như những bản kinh Vulgate, phần lời này có những điệp âm được sử dụng nhiều lần (những chỗ in đậm). Các từ trong đoạn aria cho thấy sự bắt buộc cần phải có trong một bài thánh ca: từ ngữ ca ngợi Chúa, giống như các bản Kinh Thánh từ số 95-100 hoặc nằm rời rạc trong sách Thánh. Một cụm từ được lặp lại nhiều lần đó là”…cantica canendo / cantui…” về nghĩa có thể được hiểu như là “…hát lên những bài ca/ cùng hát…”

 Với phần recitavo, có nhà nghiên cứu đã liên tưởng bình minh với thánh Mary, nhưng thực ra điều này là sai. Từ hàng thế kỷ nay, trong các tranh khắc về Giáng Sinh hay các dịp Thánh Đản khác, sự giáng thế của Chúa thường đi kèm với ánh sáng. Giả thiết này càng được củng cố bởi các dữ kiện từ kinh Isaiah, sách Phúc Âm, hoặc trong Kinh Thánh. Ví dụ như trong Isaiah: “…Đoàn người đi trong đêm tối, chợt thấy một luồng sáng bừng lên ở phía xa..” ngay sau đoạn này là sự ra đời của Chúa. Do đó, ánh sáng trong “Exsultate, jubilate” phải là ánh sáng từ sự ra đời của Chúa.

 

Aria 2:

Tu virginum corona,

tu nobis pacem dona,

tu consolare affectus,

unde suspirat cor.

Kìa vòng hoa của các trinh nữ,

Đang ban cho chúng ta những điều an lành,

An ủi tâm hồn,

Từ những trái tim đang mệt mỏi.

 

Alleluja :

Trong đoạn cuối cùng của “Exsultate, Jubilate”, không có lời hát hoàn chỉnh mà chỉ có một từ “Alleluja” được lặp đi lặp lại nhiều lần. Các bản Salzburg chỉ khác bản Milano ở phần aria đầu tiên và phần recitativo.

Bản Salzburg 1:

Aria 1:

Exsultate, jubilate,

o vos animae beatae,

exsultate, jubilate,

Summa Trinitas revelatur

et ubique adoratur,

date gloriam, date illi gloriam.

Summa Trias adoratur,

date illi gloriam.

Hãy hân hoan hát lên,

Hỡi những tâm hồn được phù hộ,

Hãy hân hoan hát lên,

Vì Chúa ba ngôi đã hiển linh

Nơi nơi tôn thờ;

Vầng hào quang đang toả.

Và chúng ta tôn thờ Người.

 

Recitativo:

Tandem advenit hora, qua Deum colimus in spiritu et veritate,

et nomen illius magnum in omni loco est.

Debitum jam illi sit sacrificium;

sed per Mariam accedamus in fide ad fontem gratiae,

ad thronum misericordiae,

ut magis acceptabile sit obsequium.

Đây là thời khắc chúng ta hiến dâng cho Người cả tinh thần và niêm tin,

Và tên Người được nhắc đến ở khắp mọi nơi.

Vì ở Người có sự hy sinh cao cả;

Khi thánh Mary ban cho chúng ta ân huệ và niềm tin,

Ngai vàng của đức khoan dung,

Do đó sự tôn kính của chúng ta càng có ý nghĩa.

 

Bản Salzburg 2 :

 

Aria 1:

Exsultate, jubilate,

o vos animae beatae,

exsultate, jubilate,

Caro factus, factus homo ubique adoratur;

date gloriam, date illi gloriam.

Summa Trias adoratur,

date illi gloriam.

Hãy hân hoan hát lên,

Hỡi những tâm hồn được phù hộ,

Hãy hân hoan hát lên,

Vì Người đã hiển linh ở khắp mọi nơi;

Với vầng hào quang chói lọi.

Chúng ta tôn thờ Đức chúa Ba Ngôi,

Với niềm tin… 


Các đoạn recitativo của Salzburg 1 và Salzburg 2 là giống nhau.

Các đoạn này đã có những thay đổi đáng kể so với tính chất của một tác phẩm tôn giáo. Việc đề cập đến Đức Chúa Ba Ngôi trong các tác phẩm tế lễ là hợp lý vì tất cả các vị thánh Ba Ngôi đều đóng một vai trò quan trọng trong sự ra đời kỳ diệu của Chúa. Trong tín ngưỡng của đạo Thiên Chúa, tinh thần mộ đạo là điều được gieo vào lòng người trong lễ Truyền Tin, và thường được miêu tả trong các bức hoạ thời kỳ Phục Hưng bằng một vầng sáng đi vào tai của Thánh Mary. Ta cũng khó có thể đánh đồng sự hoa mỹ của bản Milano (thích hợp với các dịp Giáng Sinh, đặc biệt là lễ Mixa rạng đông – Missa in aurora) với sự tôn sùng (vốn tương đối trừu tượng) Đức Chúa Ba Ngôi; mà ngược lại, theo các bản viết tay tìm được ở nhà thờ Chúa Ba Ngôi ở Salzburg, nó mang ngữ nghĩa giáo xứ địa phương nhiều hơn.

 Từ ngữ dùng trong 2 bản Salzburg đã không giữ lại được nét hoa mỹ của bản Milano. Dường như chúng hơi buồn tẻ hơn, chú trọng đến học thuyết nhiều hơn. Hơn nữa,có một sự ngượng nghịu trong cách gieo vần của 2 bản Salzburg. Nó cho thấy sự hiểu biết không sâu sắc về tiếng Latin của tác giả, khiến chúng không có được sự hoa mỹ cần có như bản Milano. Ví dụ như đoạn “...dulcia cantica canendo / cantui vestro respondendo / psallant aethera cum me” nghe hay hơn bản Salzburg 1: “…Summa Trinitas revelatur / et ubique adoratur, date illi gloriam / Summa Trias adoratur, date illi gloriam”. Đó là chưa kể đến bản Salzburg 2 với “…Caro factus, factus homo ubique adoratur / date gloriam, date illi gloriam/ Summa Trias adoratur, date illi gloriam.”

 Nếu ai nghiên cứu kỹ  thì đều thấy rằng bản Milano là thích hợp nhất với phần nhạc của Mozart. Sự nhấn mạnh trong khúc ‘dulcia cantica canendo / cantui vestro respondendo‘, càng làm nổi bật giai điệu nằm giữa ‘canendo‘ và ‘respondendo’ ; vì bình thường thì “canendo” phải liên kết với đoạn trước, “respondendo” liên kết với đoạn sau. Nhưng khi Mozart đặt 2 đoạn này sát nhau, ông đã tạo nên một hiệu quả âm nhạc đặc biệt, trong đó ’respondendo’ là sự trả lời cho ‘canendo’. Sự “trả lời” này được minh hoạ khi giọng hát cất lên “respondendo”, sau đó dàn nhạc lặp lại phần giai điệu, sau đó giọng hát lại “trả lời” bằng một “respondendo” khác, tạo nên một hiểu quả đặc biệt làm tôn lên chất giọng của ca sĩ. Hiệu quả âm nhạc tuyệt vời này không có trong 2 bản Salzburg, thay vào đó là việc lặp lại một cách nhàm chán, tẻ nhạt các từ “revelatur” và “adoratur”.

 Những người tin tưởng ”Prima la musica e poi le parole” có thể coi điều này không quan trọng, nhưng nếu có thể, chúng ta sẽ mời họ nghe thử và so sánh giữa 2 bản thu của Emma Kirby và Felicity Lott (hoặc Sylvia McNair) và để họ tự rút ra kết luận. Theo một bài báo đăng trong “Opera News” gần đây có nhắc đến tầm quan trọng của phần lời với phần nhạc của tác phẩm. Do đó, ta thấy phần lời của 2 bản Salzburg rõ ràng là không thích hợp với phần âm nhạc. Điều này không gây ngạc nhiên cho lắm khi chúng ta thử nghe 1 bản nhạc nước ngoài có phần lời được dịch sang tiếng Việt : chắc chắn sẽ có sự gượng gạo, bởi vì từng nốt, từng quãng của phần nhạc được viết ra để phù hợp với ngôn ngữ nguyên bản, không phải dành cho tiếng Việt. Ví dụ như trong 2 bản Salzburg của “Exsultate, Jubilate”, “Trias” – từ nguyên gốc tiếng Hy Lạp phải thay thế bằng “Trinitas” để phù hợp với âm nhạc.

 Nhưng hiển nhiên là, một cậu bé 16 tuổi như Mozart không thể có sự hiểu biết thấu đáo mọi khía cạnh thần học của phần lời bản Milano khi viết phần nhạc cho nó. Nhưng dù sao đi nữa thì phần âm nhạc tuyệt vời của “Exsultate, jubilate” không những tôn lên vẻ đẹp của giọng hát mà hơn thế, còn làm nổi bật tinh thần của phần lời. Ở một khía cạnh khác, từng câu từng chữ quá phù hợp với phần lời, càng làm tăng thêm ý nghĩa của tôn giáo và rõ ràng là nghe êm tai hơn hẳn. Thành công này của Mozart báo hiệu những thành công còn lớn hơn với những tác phẩm về sau như Le Nozzle di Figaro, tác phẩm có phần lời ăn khớp hoàn toàn với phần nhạc. Chính vì sự tuyệt vời của nó mà tác phẩm này được tất cả các nhà âm nhạc học công nhận là một trong những tác phẩm hoàn hảo nhất.

Richard Hamilton Armstrong và Paul F. Zweifel

Mạnh Thành (nhaccodien.info) dịch