Tác giả: Franz Schubert
Thời gian sáng tác: năm 1819
Xuất bản lần đầu: năm 1829, một năm sau khi tác giả mất
Tổng phổ: violin, viola, cello, contrabass và piano
Tác phẩm có 5 chương:
I.Allegro vivace
II.Andante
III.Scherzo: Presto
IV.Andantino: Tema con variazioni
V.Allegro giusto
 Ngày nay khi mà việc đạo nhạc dễ bị phát hiện, không một nhà soạn nhạc tự trọng nào lại cố tình lấy một giai điệu cũ để cho vào một tác phẩm nguyên bản có vẻ như mới mẻ (ngoại trừ lấy làm mẫu hoặc để tỏ lòng tôn kính một cách có ý thức đối với các bậc tiền bối mà họ khâm phục). Nhưng ở những thời đại trước đây khi mà việc xuất bản không vội vàng và hiếm hoi hơn cũng như bản quyền tác giả khó sinh lợi thì ít có những băn khoăn như vậy. Những nhà soạn nhạc thường viết những biến tấu trên các chủ đề của người khác và có nhiều xu hướng sử dụng tối đa những chủ đề sẵn có. Franz Schubert đã sử dụng lại ba trong số những lied phổ biến nhất của ông để tạo ra ba tác phẩm hòa nhạc thính phòng được yêu thích nhất của mình là “Die Forelle” Quintet (Ngũ tấu “Con cá măng”); “Der Tod und das Mädchen” Quartet (Tứ tấu “Thần chết và Trinh nữ”) và “Wanderer” Fantasy (Fantasy “Người lang thang”).
 Đến năm 1819, mặc dù chưa một tác phẩm đơn lẻ nào trong số hàng trăm sáng tác của Schubert được xuất bản hay biểu diễn trong các buổi hòa nhạc chính thức nhưng những tác phẩm ở dạng bản thảo của ông đã vang lên trong các buổi biểu diễn thân mật. Ca sĩ giọng baritone Johann Vogl (khi ấy đã 50 tuổi) trở thành một người hâm mộ Schubert (khi ấy mới 22 tuổi). Johann Vogl đã mời Schubert về quê mình là thị trấn Steyr, Thượng Áo, một khu văn nghệ sĩ vùng núi Alps. Đây là kỳ nghỉ thực sự đầu tiên của Schubert và ông đã bị mê hoặc. Trong một lá thư gửi anh trai mình, ông đã nhắc đến không chỉ những kỳ quan thiên nhiên “đẹp hơn mọi hình dung” mà còn cả tám cô gái trong ngôi nhà ông ở mà “hầu như cô nào cũng xinh”. Ông mau chóng thấy mình là trung tâm chú ý tại các tối hòa nhạc tại thị trấn do Sylvester Paumgartner tài trợ. Paumgartner là một nghệ sĩ cello nghiệp dư, nhà bảo trợ nghệ thuật và ông chủ khai thác mỏ địa phương giàu có, người đặc biệt yêu thích lied “Die Forelle” (“Cá hồi”) của Schubert. Chẳng biết do được đề nghị hay với ý định về một “món quà cám ơn”, Schubert đã sử dụng lied làm cơ sở cho bản ngũ tấu mà ông viết khi trở lại Vienna và gửi cho Paumgartner, người đã phải gắng sức để biểu diễn tác phẩm vì có vẻ như Schubert đã ước tính vượt quá khả năng kỹ thuật của Paumgartner. Sau đó tổng phổ bị xếp xó và chỉ một năm sau khi Schubert mất nó mới được xuất bản.
 Phần nào khác với các ngũ tấu piano và đàn dây thông thường (viết cho 2 violin, viola, cello và piano), bản ngũ tấu này giảm đi 1 violin và có sự góp mặt của contrabass. Có một điều thú vị là hai thập niên trước đó Hummel cũng viết một bản ngũ tấu sử dụng kiểu kết hợp nhạc cụ tương tự; các học giả vẫn còn đang tranh cãi về việc ý tưởng này của Schubert nảy sinh một cách độc lập hay có thể ông đã được xem tổng phổ ngũ tấu của Hummel trong thư viện của Paumgartner. Vì Paumgartner chơi cello nên có giả thuyết cho rằng Schubert đã thêm contrabass vào để giảm nhẹ vai trò cello trong bè trầm giúp cho cello có thể góp mặt vào những giai điệu tràn đầy trong tác phẩm.
 Lied “Die Forelle” được dựa trên ba khổ đầu bài thơ xinh xắn nhưng sáo mòn viết năm 1783 của Christian Daniel Schubart (không có liên quan họ hàng gì với Schubert). Trong lied, giai điệu lặp lại, điển hình của Schubert khiến người nghe dễ dàng say mê hoàn toàn và có thể nhớ ngay lập tức, nó càng tươi sáng hơn bởi âm hình nhấp nhô vui vẻ của phần đệm piano gợi lên hình tượng con cá. Chương thứ tư của ngũ tấu là một bộ các biến tấu trên giai điệu lied. Như Myers nhận xét, Mozart và Beethoven đã xuất phát từ những biến đổi chủ đề và hòa âm đậm nét nhưng với Schubert giai điệu có tầm quan trọng bậc nhất và vì thế các biến tấu của ông là sự luân chuyển giai điệu giữa các nhạc cụ như thể vui thích xem xét nó từ mọi góc độ. Để trêu chọc Paumgartner, Schubert đã trì hoãn âm hình piano tuyệt vời từ lied gốc đến tận gần cuối tác phẩm.
 Chương I, Allegro vivace, bắt đầu bằng một hợp âm rải chùm ba cách nhau hai quãng tám trên piano được tiếp nối bằng một giai điệu êm ả, chủ yếu là những nốt trắng trên các đàn dây. Hợp âm rải ngay lập tức gợi nhắc đến hợp âm rải đi lên của phần đệm trong lied, mặc dù không có các nốt bán cung và bao trùm một khoảng lớn hơn. Đó có lẽ là yếu tố quan trọng nhất trong chương I, được dùng để định rõ hòa âm và mở ra những âm hình chùm ba. Chủ đề thứ hai (vượt trội hơn), ở dạng duet giữa violin và cello (cello là nhạc cụ của Paumgartner), được phát triển theo những quãng tám trên piano (những quãng tám trên piano là đặc trưng của toàn bộ tác phẩm). Đoạn codetta ở cuối phần trình bày khá dài, với các gam và nhịp dải, nhưng vì nó tiến hành muộn hơn, được dịch giọng, cũng như phần coda, nên không gây ngạc nhiên. Phần phát triển ở giọng Rê nhờ thế phần tóm tắt có thể bắt đầu trên một sự dịch giọng chính xác (từ Rê tới La) của phần trình bày – đi từ La tới Mi. Nhưng như William Mann nói : “Phần tóm tắt của một người lười biếng là niềm thích thú của mọi người.”
 Chương II chậm (Andante) đơn giản là sự luân phiên của ba giai điệu, kéo dài và dịch giọng từ Mi trưởng tới Pha thăng thứ ở giai điệu thứ hai và dịch giọng tới Rê trưởng ở giai điệu thứ ba. Một nửa chương kết thúc chính xác ở một nốt Sol, tạm ngưng rồi chuyển từ Sol sang nốt chủ âm của giọng La giáng trưởng và cả quá trình diễn lại qua một cấp độ mới : La giáng, La và về lại giọng Pha đầu chương.
 Chương III ở tốc độ Presto. Phần skezzo đầy những nhịp mạnh mẽ bất ngờ cũng như biết trước gần như có thể cho là những cú va chạm mạnh. Phần trio trở lại mượt mà và bè piano đối đáp lại với các đàn dây.
 Trong chương IV, chủ đề và các biến tấu, việc so sánh chủ đề và lied gốc chỉ ra rằng Schubert đã vui thích biến đổi nó cho phù hợp với hoàn cảnh mới của nó. Cũng bằng việc chuyển sang giọng Rê trưởng (từ Rê giáng) ông đã làm chậm lại và lấp đầy bằng các nốt điểm xuyết và nốt hoa mĩ. Ông cũng để cho tám ô nhịp đầu tiên được lặp lại. Đầu tiên là trên violin. Trong biến tấu thứ nhất bè piano thể hiện giai điệu (dĩ nhiên là ở các quãng tám), bè viola thể hiện giai điệu trong biến tấu thứ hai và trong biến tấu thứ ba thì cả cello và contrabass cùng thể hiện giai điệu. Ở biến tấu thứ tư, việc chuyển sang giọng thứ đã phá vỡ cảnh điền viên êm ả và mang tới tiết trời bão gió. Cấu trúc chuyển từ giai điệu cùng phần đệm sang một cấu trúc hòa hợp và phức tạp hơn. Điệu thức chuyển về giọng trưởng, lần này là Si giáng, trong biến tấu thứ năm ; cello và contrabass điểm xuyết một phiên bản giai điệu và tiết trời bắt đầu trong trẻo. Qua sự chuyển giọng kỳ lạ sang Rê giáng trưởng tới Rê trưởng, một tiết tấu nhanh hơn, phần đệm lied gốc, violin và cello thay nhau thể hiện giai điệu và ánh mặt trời đã trở về ở biến tấu cuối cùng.
 Có một sự tạm ngưng và chúng ta đã ở chương cuối. Chương này ở tốc độ Allegro giusto và một lần nữa nửa sau của chương là một sự dịch giọng chính xác của nửa đầu chương được soạn lại để trở về giọng La trưởng. Thực tế là không có phần phát triển; cuộc thảo luận các chủ đề đã tiếp tục trong mọi lúc. Nhưng bên ngoài khung cửa sổ mọi ý kiến mang tính mô phạm đều cháy rụi và thay vào đó là tâm trạng nghỉ ngơi thanh nhàn.
 Mặc dù chương các biến tấu là trung tâm tác phẩm, toàn bộ ngũ tấu khiến người nghe say mê. Massimo Mila gọi nó là một “bài thơ về ngày nghỉ” phản ánh niềm vui thích đắm say của Shubert trước cảnh sắc thôn quê sau khi bị giam hãm cả đời trong thành phố ; “nó là nơi thiêng liêng lưu giữ kỷ niệm về một mùa hè thú vị, về những ngày nhàn nhã thảnh thơi ; âm nhạc ngập trong ánh nắng và tinh thần tuổi trẻ, … tình bạn và tính nhân văn được dệt vào trong kết cấu âm nhạc.” Thực tế là phần còn lại của ngũ tấu hoạt bát và hấp dẫn, ắp đầy giai điệu và sự ấm áp, sự chuyển giọng nhẹ nhàng, cách phối khí đã tạo ra một sự pha trộn thanh âm phong phú, hài lòng và mang nhiều màu sắc biến ảo.
Ngọc Anh (nhaccodien.info) tổng hợp