Bản Concerto cho Piano số 3, giọng Rê thứ, Opus 30

SERGEI VASILIEVICH RACHMANINOV là một nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga, sinh ra ở Semyonovo, quận Starorusky, Nga, vào ngày 1 tháng 4 năm 1873 và qua đời tại Beverly Hills, California, Mỹ, vào ngày 28 tháng 3 năm 1943.

Bản concerto số 3 cho piano và dàn nhạc được ông bắt đầu sáng tác tại Ivanovka, Nga, vào mùa hè năm 1909 và hoàn thành vào ngày 23 tháng 9 năm 1909. Tác phẩm được ra mắt vào ngày 28 tháng 11 năm 1909 trong chuyến lưu diễn vòng quanh nước Mỹ đầu tiên của Rachmaninov, do chính ông làm nghệ sĩ độc tấu cùng với Dàn nhạc Giao hưởng New York, nhạc trưởng Walter Damrosch.

Về phần tổng phổ thì ngoài piano, tác phẩm còn có 2 sáo, 2 oboe, 2 clarinet, và 2 bassoon, 4 kèn, 2 trumpet, 3 trombone, kèn tuba, bộ trống định âm, trống bass, chũm chọe, và dàn dây.

Bản concerto này đứng sừng sững như một đỉnh Everest giữa danh mục các tác phẩm viết cho concerto. Toàn bộ tổng phổ có quy mô rất lớn và dày đặc các kỹ thuật cực khó, đòi hỏi nghệ sĩ độc tấu phải chơi gần như không ngừng nghỉ trong hơn bốn mươi phút thời lượng của tác phẩm, đã thế sự phong phú về các cung bậc cảm xúc khiến cho nghệ sĩ độc tấu không thể lơ là với tác phẩm này. Chính vì thế, ngay cả những bậc thầy dày dạn kinh nghiệm như Joseph Lhévinne, Artur Rubinstein và Sviatoslav Richter cũng phải e dè tác phẩm này. Khi tác phẩm được hoàn thành vào năm 1909 và đề tặng Josef Hofmann, Hoffman đã thẳng thừng từ chối biểu diễn tác phẩm này, cho rằng tổng phổ của tác phẩm này chỉ là cơn cuồng mộng và không thể nào chơi nổi. Tuy nhiên, thực tế là Rachmaninov cao đến gần 2 mét và có bàn tay rất rộng, trong khi Hofmann có thể hình bình thường hơn nhiều; có lẽ vì thế mà ông tự lượng sức mình không thể đương đầu với cơn cuồng phong của các nốt nhạc trong bản concerto số 3 này. Chính điều đó khiến Rachmaninov là người duy nhất biểu diễn tác phẩm này trong một thời gian dài.

Dưới đây là minh họa sải tay của Rachmaninov so với các nghệ sĩ khác.  

Ành 1: So sánh sải tay của một số nghệ sĩ piano so với Rachmaninoff.

Rachmaninov cao đến 6’6” ~1.98m với sải bàn tay rộng đến hơn 12” ~ 30cm. Có lần đồng nghiệp của ông – Cyril Smith – còn thấy Rachmaninov đang tập tay trái với hợp âm C-E flat-G-C-G (Đô-Mi giáng-Son-Đô-Son). Thật kinh khủng!

Nguồn: classicfm.com

Có ý kiến cho rằng, khi nghe tác phẩm này, không ai hiểu nổi nó có thể chơi được, huống chi là đặt bút viết ra giấy tác phẩm này. Sự phức tạp của bản concerto này ban đầu cũng khiến khán giả và các nhà phê bình khá là bối rối và sợ hãi. Vào năm 1912, vài năm sau khi tác phẩm được ra mắt, Sergei Prokofiev – một nghệ sĩ piano mới nổi vừa tròn hai mươi mốt tuổi – đã viết cho một người bạn của mình rằng ông thích bản concerto cho piano thứ 2 của Rachmaninov hơn là bản thứ 3 này, cho rằng nó “…quá khô khan, khắt khe không có mục đích, và không mấy hấp dẫn. Trong giới âm nhạc, nó chả dành được chút tình cảm nào, và ngoài tác giả thì không ai muốn biểu diễn nó cả…”. Tuy nhiên, chỉ khi một nghệ sĩ piano người Nga khác bắt đầu biểu diễn lại tác phẩm này thì nó mới bắt đầu thu hút được thính giả, người nghệ sĩ đó không ai khác chính là huyền thoại Vladimir Horowitz.

Lần đầu tiên nghe Horowitz chơi dù chỉ một đoạn, Rachmaninov đã phải thốt lên một cách ngưỡng mộ rằng “…Horowitz đã nuốt trọn toàn bộ bản concerto không một chút e dè!…”. Đối với Horowitz, bản concerto số 3 viết cho piano và dàn nhạc của Rachmaninov (đôi khi được gọi ngắn gọn là “Rach 3”, “Rock 3”, hay “Rack 3”) đã trở thành một dấu ấn cá nhân. Horowitz thậm chí còn tự hào tuyên bố rằng: “Chẳng cần phải khiêm tốn giả tạo gì cả, chính tôi đã mang bản concerto này ra ánh sáng”. “Tôi đã cứu vớt nó, cho nó một cuộc sống hoàn toàn mới – điều mà chính Rachmaninov còn không làm được”. Ngoài ra, Rachmaninov có thể là người đầu tiên biểu diễn, nhưng chính Horowitz mới là người đầu tiên được thu âm tác phẩm này. Sau đó vào cuối những năm 1950, một nghệ sĩ piano trẻ từ Texas – Van Cliburn – đã khiến tác phẩm còn được biết đến nhiều hơn khi thu âm tác phẩm này, không lâu sau chiến thắng vang dội tại cuộc thi Tchaikovsky năm 1958 tại Moscow.

Gần đây hơn, vào năm 1996 , bộ phim “Shine” đã tạo ra một cơn địa chấn mới khiến cho tác phẩm này của Rachmaninov còn được biết đến nhiều hơn nữa. Trong bộ phim này, diễn viên người Úc Geoffrey Rush đã giành được giải Oscar nhờ khả năng hóa thân xuất thần vào vai nghệ sĩ dương cầm David Helfgott. Trong một trường đoạn, ông vừa phải vật lộn với lũ quỷ dữ đang dày vò điên loạn trong tâm trí mình, vừa phải gồng mình vật lộn với những nốt nhạc quay cuồng của bản concerto. Khi những nốt nhạc cuối cùng vang lên: David đổ gục xuống cây đàn piano, mắt mở to vô định trong tiếng hò reo vang dội của khán giả. Một cảnh quay đầy ám ảnh!

Trong một cảnh quay trước đó, giáo viên của Helfgott – do John Gielgud thủ vai – đã phải hét lên với ông đừng xem thường tác phẩm: “Anh sẽ bị tổn thương đấy!”. Không ai nghĩ một chàng thanh niên trẻ mới 21 tuổi, với chứng bệnh tâm thần và cảm xúc không ổn định lại dám đương đầu với một thử thách như vậy…

Một điều đáng chú ý là, trái với nội dung kịch tính của mình, bản concerto số 3 viết cho piano và dàn nhạc lại được sáng tác trong một giai đoạn khá bình yên và hạnh phúc của Rachmaninov. Tám năm trước đó, vào năm 1901, ông ra mắt bản concerto số 2 và thành công vang dội. Một năm trước đó – 1900 – thì bản giao hưởng số 2 cũng đạt được thành công lớn. Lúc này Rachmaninov khá nổi tiếng và giàu có, cuộc sống gia đình thì hạnh phúc.

Vào thời điểm này, nước Nga đã dành được hòa bình. Trong nhiều năm, Rachmaninov nghỉ đông ở Dresden và nghỉ hè tại Ivanovka, sâu trong thảo nguyên yên bình của tỉnh Tambov, khoảng hơn 300 dặm về phía tây nam Moscow. Vào mùa thu năm 1909, Rachmaninov có chuyến lưu diễn đầu tiên tại Mỹ và được công chúng đón nhận rất nồng nhiệt. Với tâm trạng rất phấn khởi, ông còn định mua một chiếc xe hơi mới. Trước đó, khi đang chuẩn bị cho chuyến lưu diễn này, ông định bí mật giới thiệu một bản concerto mới để phô diễn khả năng chơi piano bậc thấy của mình. Mặc dù bị ảnh hưởng trong quá khứ bởi những cơn trầm cảm nghiêm trọng làm hạn chế khả năng sáng tác, nhưng với bản concerto này, Rachmaninoff đã tập trung cao độ nên sáng tác rất nhanh và hoàn thành toàn bộ tác phẩm chỉ trong vài tuần. Ông thậm chí còn tranh thủ luyện tập trên một bàn phím giả, khi đang trên hành trình xuyên Đại Tây Dương để kịp buổi biểu diễn đầu tiên vào ngày 4 tháng 11 năm 1909 tại Northampton, Massachusetts; dù đến cuối tháng 11 tác phẩm mới được ra mắt chính thức tại New York, và sau đó chuyến lưu diễn được kéo dài đến tận cuối tháng 1 năm 1910. Sau chuyến lưu diễn này, dù thành công về tài chính nhưng ấn tượng của ông về người Mỹ không tốt lắm, cho rằng họ như là những “công chúa đô-la” và phàn nàn với một tờ báo ở Moscow rằng “…công chúng rất lạnh lùng và bị bội thực bợi lịch biểu diễn dày đặc của các nghệ sĩ hạng nhất…” Tuy nhiên, điều này đã không ngăn cản ông liên tục quay trở lại Hoa Kỳ trong những năm tiếp theo và thậm chí là định cư ở Beverly Hills.

Điểm nổi bật của chuyến lưu diễn này là buổi ra mắt bản concerto tại New York vào ngày 28 và 30 tháng 11, với dàn nhạc New York Philharmonic dưới sự chỉ huy của Walter Damrosch. Vào ngày 16 tháng 1, tác phẩm được biểu diễn lần thứ hai tại Carnegie Hall do Gustav Mahler chỉ huy. Sự tỉ mỉ và chăm chút của của Mahler đã gây ấn tượng sâu sắc với Rachmaninoff: “..theo tôi thấy ở Mahler, mọi chi tiết trong tổng phổ đều cực kỳ quan trọng và được chú ý kỹ càng – đây là một thái độ rất hiếm thấy ở các nhạc trưởng khác..”

Tác phẩm được công chúng đón nhận khá tốt, mặc dù các nhà phê bình của New York Herald đã dự đoán khá chính xác rằng “…độ dài đáng kể và những kỹ thuật phức tạp của tác phẩm sẽ quật ngã rất nhiều người, chỉ trừ những nghệ sĩ với kỹ thuật thượng thừa và năng lượng dồi dào mới chinh phục được nó…” Trong bản concerto này, piano chiếm thế chủ động từ đầu đến cuối, khiến cho nó rất khác với bản concerto thứ 2 – khi dàn nhạc lại nổi bật hơn và có phần “dìu dắt” piano qua các chương.

Cách mở đầu của 2 tác phẩm cũng cho thấy sự khác biệt. Trong bản concerto số 2, piano vang lên những âm thanh rời rạc tựa như tiếng chuông, giới thiệu dàn nhạc và chủ đề chính. Với bản concerto số 3 này, dàn nhạc chỉ chạy 2 khuông nhạc nhỏ trước khi nhanh chóng nhường hoàn toàn không gian để piano diễn tấu chủ đề chính đầu tiên. Bên cạnh đó, hai khuông nhạc này sử dụng mô típ ba nốt nhạc cao dần từ Rê lên Fa, xuống Mi và quay lại Rê; cách viết cao độ trồi lên sụt xuống liên tục này được sử dụng trong suốt bản concerto giúp tăng đáng kể kịch tính cho tác phẩm.

Cấu trúc tác phẩm:

Chủ đề chính của chương đầu tiên cũng bắt đầu bằng Rê, sau đó giai điệu được phát triển chậm rãi xung quanh giọng Rê này trong suốt chiều dài của 25 khuông nhạc. Một số thính giả cho rằng giai điệu quyến rũ chậm rãi này nghe như một bài hát dân gian hoặc thậm chí giai điệu tôn giáo nào đó, nhưng Rachmaninov kiên quyết bác bỏ và hùng hổ tuyên bố rằng: “…chính âm nhạc tự bản thân nó sáng tác ra nó! Tôi ngân nga một giai điệu và phần hòa tấu của dàn nhạc cứ tự nhiên vang lên, miễn là tôi không được chủ ý ‘dìm’ cái giai điệu kia xuống. Chỉ đơn giản vậy thôi! Tương tự như vậy, tôi thấy rằng, mặc dù có thể trái với chủ đích của tôi, nhưng những chủ đề này tự nó du dương như một bài hát hoặc một giai điệu nào đó trong tiềm thức...”

Chủ đề chính của chương đầu tiên được lặp lại ở giữa chương này, nhưng có một sự thay đổi nhỏ hầu như không thể nhận ra, theo một cách rất giống với cấu trúc của bản giao hưởng số 2. Sau đó chương nhạc được tiếp nối bằng chủ đề thứ hai, nghe hơi giống một hành khúc quân đội, với sự tinh tế khác thường so với chủ đề đầu tiên. Chủ đề này được Rachmaninov cực kỳ chăm chút và phát triển một cách rất công phu, tưởng rằng chương nhạc có thể kết thúc tương đối êm đềm để mở đầu cho chương chậm, nhưng Rachmaninov lại thêm vào một khúc trổ ngón khổng lồ – chiếm đến năm trang trong tổng phổ, nên đáng lẽ phải gọi là hai khúc trổ ngón mới đúng. Trong phần 1 của khúc trổ ngón này, Rachmaninov cung cấp hai lựa chọn cho nghệ sĩ độc tấu: lựa chọn thứ nhất, dài hơn, bao gồm 75 khuông nhạc đầy thử thách; và rõ ràng được sáng tác trước; và lựa chọn thứ hai, hơi ngắn hơn  – 59 khuông nhạc – và cũng ít đòi hỏi về kỹ thuật hơn. Phần 2 của khúc trỏ ngón này thì giống nhau, đều bao gồm 21 khuông nhạc. Một điều thú vị là khi biểu diễn, bản thân Rachmaninoff lại hơi “ăn gian” khi luôn chơi phiên bản số 2 – ngắn hơn và dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, tại cuộc thi Tchaikovsky năm 1958, Van Cliburn đã dám biểu diễn phiên bản số 1 – dài hơn và khó hơn. Điều này đã tạo ra một tiền lệ cho các nghệ sĩ độc tấu khác sau này. Bất ngờ là ngay cả Horowitz cũng thích phiên bản số 2, cho rằng rằng bản số 1 quá nhiều cao trào không cần thiết, nghe giống như “…bản nhạc sắp kết thúc đến nơi. Chả hay ho gì khi chương nhạc còn chưa kết thúc mà nghe xong khúc trổ ngón có cảm tưởng là hết luôn tác phẩm rồi!” Cuộc tranh luận về 2 khúc trổ ngón này cứ thế mà tiếp tục cho đến tận ngày nay – sau hơn 100 năm – mà chưa có hồi kết.

Ảnh 2: trích đoạn chương 1

Đối với chương thứ 2, Rachmaninov đã tạo ra một chủ đề chính có hồn, tuy hơi ảm đạm và u sầu; từng nốt nhạc được dàn nhạc giới thiệu một cách nhẹ nhàng chậm rãi, rồi từ từ từng nốt nhạc rơi dần vào sâu thẳm tuyệt vọng. Sau ba mươi khuông nhạc, đàn piano vang lên những nốt đầu tiên một cách rền rĩ, tiếp nối bằng một loạt phát triển giai điệu lắt léo và điêu luyện, xen lẫn những khoảng trầm sâu lắng. Cuối chương nhạc là một giai điệu waltz kiểu 3/8 của Tchaikovsky, và đặc biệt hơn cả là một khúc trổ ngón còn khổng lồ và mạnh mẽ không kém gì chương 1.

Ảnh 3: trích đoạn chương 2

Chương cuối đầy mãnh liệt được tiếp nối ngay sau chương 2. Các chủ đề của chương này có sự liên quan chặt chẽ với hai chương đầu cả về nhịp điệu và các giai điệu dẫn dắt, mang lại cho tác phẩm to lớn này một cảm giác thống nhất và chặt chẽ khác thường. Sau một khúc trổ ngón gần cuối chương, piano vang lên những hợp âm mạnh như sấm sét, kiêu hãnh ngang tàng lặp lại những chủ đề của chương đầu tiên. Sự u ám u sầu của chương 2 và của giọng Rê thứ giờ đã bị bỏ xa, piano vượt lên theo giọng Rê trưởng, đưa bản nhạc về kết thúc huy hoàng.

Ảnh 4: trích đoạn chương 3

Chính vì độ dài và những yêu cầu kỹ thuật phức tạp mà bản concerto số 3 viết cho piano và dàn nhạc này thường được cắt xén đôi chút khi biểu diễn. Thậm chí, bản thân Rachmaninov cũng đã lược bỏ một số đoạn – chủ yếu ở chương cuối – trong bản thu của ông với dàn nhạc giao hưởng Philadelphia Orchestra và Eugene Ormandy vào năm 1939-40. Tuy nhiên ngày nay, tác phẩm thường xuyên được biểu diễn với tổng phổ gốc.

Các bản thu âm nổi tiếng:

Bản concerto số 3 viết cho piano và dàn nhạc của Rachmaninov không được thu âm nhiều bằng bản số 2, nhưng bản thu đáng chú ý là bản thu huyền thoại do Vladimir Horowitz cùng dàn nhạc New York Philhamonic và Eugene Ormandy tại Carnegie Hall – ngày 8 tháng 1 năm 1978. Gần đây thì có bản thu của Yuja Wang cùng nhạc trưởng Gustavo Dudamel cũng rất đáng chú ý.

Tuy nhiên, bản thu đem lại nhiều cảm xúc mãnh liệt nhất chính là bản thu của Denis Matsuev cùng nhạc trưởng Leonard Slatkin và Russian State Symphony, thu tại phòng hòa nhạc Tchaikovsky tại Moscow, ngày 2 tháng 4 năm 2013. May mắn là thính giả có thể thưởng thức bản thu này trên youtube với chất lượng rất tốt. Bản thân Matsuev có thể hình không thua kém Rachmaninov, là người Nga, lại chiến thắng tại cuộc thi danh tiếng Tchaikovsky năm 1998 nên có thể nói kỹ thuật của anh rất tốt, hãy xem và cùng dựng tóc gáy với những đoạn vuốt và trổ ngón điêu luyện của “gấu Nga” – Denis Matsuev.

  Tác giả: Harlow Robinson

Dịch: Mạnh Thành