Thành tựu nghệ thuật của Andrés Segovia rất khác biệt so với bất kỳ nghệ sĩ nào trong thời đại chúng ta. Cũng như Heifetz và Horowitz, ông làm chủ được mọi trở ngại kỹ thuật của nhạc cụ mình chơi và cống hiến tài nghệ của mình cho mọi sự tinh tế về âm sắc, diễn cảm và ranh giới nghệ thuật. Segovia còn độc đáo ở chỗ ông gần như tạo ra nhạc cụ của riêng mình, tạo ra nhạc mục cho nó và tạo ra thính giả lấp đầy hầu hết những khán phòng trên thế giới để nghe ông chơi cây đàn của mình. Năm 1946, nhà phê bình âm nhạc người Mỹ Virgil Thomson có viết: “Không có cây guitar nào ngoài guitar Tây Ban Nha, và Andrés Segovia là nhà tiên tri của nó.”

Trong hơn nửa thế kỷ, Segovia đã hoàn toàn thống trị thế giới mà ông tạo nên. Những buổi biểu diễn của ông được ví như những nghi lễ tôn giáo. Bậc thầy bước ra, trông không mấy thanh tao với dáng vóc đường bệ, mái tóc dài trắng và kính viền đen. Ông gật đầu, ngồi trên sân khấu trống, đặt bàn chân trái lên dụng cụ nhỏ và bắt đầu gảy nhẹ cây guitar 6 dây của mình bằng những ngón tay to khoẻ (nhà thơ Carl Sandburg, người coi cây guitar còn hơn một cuộc chiến, một lần đã viết về “những ngón tay kiểu Segovia”).

Ông dường như chơi đàn cho chính mình một cách đơn độc, và những âm thanh tao nhã, đầy ám ảnh mà ông tạo ra từ cây đàn của mình đã từng khiến một nhà phê bình trích dẫn một câu thơ của thi sĩ Christophe Marlowe về “sự phong phú vô hạn trong căn phòng nhỏ”. Nhưng hiện giờ ông ở trong một khán phòng lớn, và trước đám khán giả mà thành niên luôn chiếm đa số, có một sự im lặng siêu nhiên bao trùm. “Có thể nghe thấy tiếng dây cót đồng hồ đeo tay ở những hàng ghế xung quanh”, nhà phê bình viết. Một đồng nghiệp của ông ta đã tường thuật đơn giản: “Không có sự im lặng nào giống như sự im lặng Segovia.”

Chính Segovia khăng khăng đòi sự im lặng đó. Thi thoảng, nếu ông nghe thấy một tiếng ho, đơn giản là ông ngừng chơi đàn và nhìn thẳng vào người phạm lỗi. “Vẻ mặt không thay đổi. Nhưng trong lòng lại nổi điên”, ông từng mô tả cảm xúc của mình về những lần gián đoạn đó. Ông đã từng chậm rãi rút khăn tay từ túi ngực, diễn tả cái ho rất kín đáo, rồi mới tiếp tục buổi hoà nhạc của mình. Đó không chỉ là sự kiêu căng. Cây guitar Tây Ban Nha có âm thanh êm ái và trầm lắng, và Segovia đã chiến đấu nhiều trận trong thời trai trẻ để thuyết phục những người hoài nghi rằng đây là một nhạc cụ có khả năng kêu vang khắp phòng hoà nhạc. “Cây guitar thực sự là một dàn nhạc – một dàn nhạc đến với chúng ta từ một hành tinh nào đó nhỏ hơn và tinh tế hơn”, ông nói. Ông thích nhắc lại nhận xét của Igor Stravinsky: “Cây guitar của Segovia không kêu ầm ỹ mà kêu vang xa.”

Ngày nay, cây guitar điện khàn khàn kêu vừa to vừa vang xa tại các buổi hòa nhạc rock and roll, thế nhưng ít nhất cũng có George Harrinson của nhóm The Beatles từng chào mừng Segovia như “người cha của tất cả chúng ta”. Đó không phải lời chào mừng được Segovia cảm kích cho lắm. “The Beatles là những chàng trai dễ thương, không nghi ngờ gì nữa, nhưng âm nhạc của họ thật đáng ghét”, ông nói. “Ngay cả khi là đứa con hoang, tôi cũng không thể chấp nhận họ.”

Ông rất hãnh diện về sự phổ biến toàn thế giới của guitar Tây Ban Nha cổ điển. Ông đã phải tự học chơi đàn, nhưng giờ đây đã có những lớp guitar chuẩn mực ở các trường nhạc và nhạc viện trên khắp thế giới. Những bậc thầy trẻ hơn như Julian Bream, John Williams và Christopher Parkening, những người đã học Segovia, nay họ làm lan toả niềm tin.

Từ Madrid đến New York, đến Tokyo, hàng nghìn cây guitar Tây Ban Nha được bán ra mỗi năm cho những người chơi đàn nghiệp dư đầy triển vọng, họ là những đứa con thực sự của Segovia.

Dẫu vậy có một đứa con thực sự khác, người đúng là ở trung tâm cuộc sống của Segovia vào những năm cuối đời: một cậu con trai hiền hậu tên là Carlos Andrés, sinh năm 1970. Segovia đã 69 tuổi khi kết hôn lần thứ 3. Emilia Corral Sancho, một trong những học trò của ông, khi ấy mới 22. Và khi Emilia sinh một cậu con trai gần 10 năm sau đó, đã có rất nhiều điện chúc mừng từ khắp nơi trên thế giới tới mức Segovia nói: “Tôi đã trở nên nổi tiếng vì là người cha hơn là vì nghệ thuật của mình”. Ngay khi Segovia trẻ có thể đi được, người cha kiêu hãnh của cậu bắt đầu mang theo cậu khi đi lưu diễn và khoe cậu khắp thế giới.

Andrés Segovia đi lại bằng ghế hạng nhất. Hai chỗ luôn bắt buộc được để dành ở hàng ghế trước của mọi tàu bay, luôn ở bên trái – hai chỗ vì cây guitar của Segovia cũng đi lại bằng ghế hạng nhất. Segovia chống lại mọi nỗ lực của tiếp viên hàng không muốn ông sắp xếp cây đàn ở xa mình. Ông cũng chống lại mọi nỗ lực mang đi cây gậy đầu bạc vốn luôn gắn liền với mình.

Cả người nghệ sĩ cũng như người đàn ông trong Segovia luôn là nguồn cảm hứng cao độ. “Ông ấy”, như Samuel Chotzinoff đã viết về ông trong cuốn A Little night Music, “nhã nhặn, kín đáo, nhiệt thành đến khắc khổ trong nói năng, kiêu hãnh, lịch thiệp một cách cổ lỗ và trên hết là, hào phóng một cách tuyệt vời. Phong thái của ông có sự chải chuốt hồn nhiên của Don Quixote, mặc dù về diện mạo ông giống Sancho Panza hơn.”

Chiến tranh và biến động chính trị đã buộc Segovia phải rời nơi mình đang sinh sống tới 14 lần, nhưng ông vẫn duy trì được vài cơ ngơi – những ngôi nhà ở Madrid và Geneva, một ngôi nhà thôn quê Tây Ban Nha. Ông vẫn đeo nơ bướm như người Bô-hê-miêng ở bước ngoặt thế kỷ – “như những thứ mà vài nhiếp ảnh gia tỉnh lẻ đeo để tự tạo ra vẻ nghệ sĩ”, có lần ông đã tự nhạo báng mình – nhưng ông đã có bộ lễ phục được may đo ở Thuỵ Sĩ. Và năm 1981, vua Juan Carlos đã phong ông là Hầu tước Salbrena. Cuộc đời, nhìn chung đã mỉm cười với ông.

Segovia giờ đây nổi tiếng đến mức khó mà hình dung được từ thời xa xưa ông đã được sinh ra ở một nơi vô danh, vào ngày 21 tháng Hai năm 1893, ở thị trấn mỏ chì Linares thuộc xứ Andalusia. Đó là năm Dvorak hoàn thành Giao hưởng Thế giới Mới và Tchaikovsky hoàn thành giao hưởng Pathetique; thành phố Milan hoan nghênh buổi công diễn lần đầu vở opera Fal-staff của Verdi. Cha mẹ Segovia đã gửi cậu bé cho người cô và chú không con cái chăm sóc. Segovia vẫn còn nhớ mình khóc khi bị bế ra khỏi tay mẹ và được người chú có râu vỗ về bằng cách hát một bài ca mà ông đệm trên một cây guitar tưởng tượng. “Điều đó đã gây cho tôi cảm giác vui sướng thật mãnh liệt”, Segovia đã viết trong tự truyện khoảng 80 năm sau, “đến mức ngay cả ngày nay, khi nhớ lại điều đó, tâm trí tôi vẫn tràn ngập cảm giác ấm áp. Đó là hạt giống âm nhạc đầu tiên được gieo vào tâm hồn tôi.”

Người cô và người chú nhanh chóng nhận ra tình yêu âm nhạc của cậu bé và cho cậu theo học một nghệ sĩ violin trong vùng. Nhà sư phạm dữ tợn này đã cấu véo cậu học trò mới năm tuổi mỗi khi cậu mắc lỗi. Cậu bé Andrés khiếp sợ quãng thời gian “bị đọa đày” chỉ chấm dứt khi thầy giáo tuyên bố cậu không có tài năng. Lời phán quyết là: “chẳng có trí nhớ lẫn tai nghe nhịp điệu”. Chính một nghệ sĩ flamenco lang thang mới là người đưa cậu bé tới với nhạc cụ định mệnh của mình, và “trong vòng một tháng rưỡi tôi đã học tất cả những gì mà người đàn ông nghèo khổ đó biết – nghĩa là rất ít ỏi.”

Khi Andrés lên 10, cô chú cậu chuyển đến Granada nơi cậu không thể có được một ngôi trường thích hợp, nhưng Andrés dành phần lớn thời gian để bập bùng cây guitar mà cậu mua trả góp bằng tiền tiêu vặt. Cậu vẫn chỉ biết nhạc pop và những giai điệu dân gian, bởi đó là tất cả nhừng gì hầu hết các nghệ sĩ guitar từng chơi. Cũng như đàn accordion hay kèn harmonica, guitar là nhạc cụ cho âm nhạc quán cà phê, thậm chí còn ít hơn thế nữa. Chàng trai không biết rằng cây guitar đã từng là một nhạc cụ cổ điển cực kỳ phổ biến suốt từ thời Phục hưng cho đến thế kỷ XVIII, và rằng vẫn còn vài người thuần tuý, như nghệ sĩ điêu luyện và nhà soạn nhạc Francisco Tarrega, người đã bảo tồn âm nhạc cổ và cố gắng giữ những truyền thống xa xưa tồn tại.

Bởi vậy đó là một sự khám phá khi Segovia ngẫu nhiên gặp một vị đại tá quân đội về hưu đang chơi cây đàn mà những nghệ sĩ flamenco gọi là “cây guitar hay”. Mặc dù đại tá chỉ mò mẫm một trong những prelude của Tarrega, Segovia đã khiếp sợ. “Tôi đã cảm thấy muốn khóc, cười, cả muốn hôn tay người đàn ông đã lấy ra từ cây guitar những âm thanh đẹp đến thế!” Segovia hồi tưởng trong tự truyện. “Niềm đam mê âm nhạc của tôi như bùng lên thành lửa. Tôi đã run rẩy. Một làn sóng chán ghét những bản nhạc dân gian tôi đã từng chơi đột ngột trùm lên tôi, hoà lẫn với nỗi ám ảnh điên cuồng phải học “thứ âm nhạc đó” ngay lập tức.

Vì không có tiền để học, cho dù có thể tìm được thầy giỏi, Segovia vẫn phải tự học mọi thứ. Anh phải bắt đầu bằng việc từ bỏ mọi điều đã biết về những tiết tấu ồn ào của guitar flamenco. Rồi anh phải lục lọi trong các thư viện để tìm những bản nhạc đã ố vàng của những nhà soạn nhạc gần như bị quên lãng, ví dụ như Fernando Sor và Mauro Guiliani, những người cùng ở thế kỷ XVIII với Beethoven. Rồi anh sẽ phải học đọc bản nhạc và tập chạy gam; anh bắt đầu sáng tạo ra một kỹ thuật hoàn toàn của riêng mình mà anh đã hoàn thiện trong nhiều năm: sử dụng cả móng tay và đầu ngón tay; anh sáng tác ra một loạt các bài tập giúp anh tinh thông từng bước kỹ thuật này. Có lẽ điều quan trọng nhất là anh đã đạt được thói quen luyện tập vài giờ mỗi ngày. “Sự tiến bộ chậm chạp dường như kích thích và tôi luyện ý chí của tôi để vượt qua sự tuyệt vọng và mệt mỏi”, ông viết.

Anh cũng còn phải biết rằng có những âm nhạc khác ngoài tất cả những thứ viết cho guitar. Anh học điều đó với một cô gái xinh đẹp tên là Laura Monserrat, người đã học piano từ một người chị. Trong lần đến chơi nhà của cha mẹ cô ấy, Segovia đã lần đầu tiên được nghe nhạc của Beethoven, Schumann, Chopin và Brahms. “Ngón tay cô ấy trở nên khó khăn ở những đoạn khó hơn”, về sau ông hồi tưởng, “và chân cô ấy cứng đờ trên pedal, cách đọc của cô ấy luôn bị sai. Dù sao, điều này cũng không làm giảm sự say sưa của tôi với âm nhạc cô ấy chơi. Âm nhạc đó đã nuôi dưỡng những giấc mơ, những hy vọng và nỗi khát khao trong tâm hồn tôi.” Và rồi Segovia bổ sung: “Tôi đang trẻ và nồng nhiệt, cô ấy ngọt ngào và đáng yêu. Chúng tôi đã đính hôn.”

Đính hôn là một nghi lễ ưa thích với chàng trai Segovia – nó đã xảy ra vài lần, nhưng anh không có ý ổn định cuộc sống gia đình. Chính là cây guitar đã mê hoặc anh, trong suốt cả cuộc đời anh thường so sánh cây đàn với người phụ nữ, đẹp nhưng thất thường, đòi hỏi người đàn ông phải hiến dâng tất cả. “Tôi chung thuỷ với nàng, tôi không phải là người lăng nhăng”, có lần anh đã nói. Khi một hôn thê trẻ khác của anh cầu xin anh từ bỏ giấc mơ về sự nghiệp âm nhạc để chọn lấy một nghề ổn định, anh đã từ hôn, và cô gái đã chia tay anh bằng một câu rủa kinh khủng của dân Di gan “Cho anh mất cả đôi tay đi!” (“Ojala te quedes manco!”)

Đến thời điểm này, Segovia đã tổ chức được những buổi hoà nhạc tại những nhà hát và câu lạc bộ nhỏ. Buổi đầu tiên của anh ở Granada khi anh 16 tuổi. Sau đó, anh bắt đầu lưu diễn ở bất kỳ thành thị Andalusia nào cho anh diễn. Về sau, anh đã mô tả một buổi hoà nhạc dành cho công chúng đó gần như là “một buổi hoà nhạc riêng”. Một ông già ngáy, một người đọc báo và chỉ 6 hay 7 người nghe, những người biểu lộ sự coi thường, hoặc hoàn toàn lãnh đạm với âm nhạc của tôi.” Không nản chí, chàng trai chuyển đến Madrid, thuê một căn phòng và lên những kế hoạch để thực hiện những điều lớn lao.

Một trong những mục tiêu đầu tiên của anh là kiếm được cây guitar xứng tầm với ước mơ của mình, vậy nên anh đã đến xưởng chế tác của Manuel Ramirez, người mang danh hiệu “luthier”, hay là nghệ nhân chế tác nhạc cụ dây cho Nhạc viện Hoàng gia. Ở tuổi 18, Segovia có dáng vẻ của một người vụng về chất phác rất điển hình đang đến chinh phục thủ đô. Cao và gầy, mái tóc đen để buông, anh mặc áo vét nhung đen cài khuy đến cổ, quần kẻ sọc, đi giày da sơn và đeo cà vạt. Anh cũng mang một cây gậy đi bộ chắc chắn. Tập trung toàn bộ sự táo bạo thể hiện qua bộ trang phục, Segovia không chỉ yêu cầu Ramirez đưa ra cây guitar tốt nhất trong cửa hàng mà anh còn đề nghị Ramirez cho anh thuê nó, cách nghệ sĩ piano lưu diễn thuê cây piano lớn. Ramirez cười phá lên trước đề nghị bất ngờ của chàng trai, nhưng có điều gì đó thật hấp dẫn về ý tưởng làm cho nhà chế tác guitar cho anh thử một trong những sản phẩm hay nhất của mình.

Segovia đã mê mẩn. “Vẻ đẹp các đường cong của nó, ánh vàng xưa cũ của những vân gỗ trên mặt đàn, hoạ tiết khảm rất thanh nhã trên đường viền trang trí hình hoa hồng, cần đàn mảnh làm bằng gỗ cứng bắt đầu từ những đường nét giản đơn của phần ngực đàn và kết thúc bằng phần đầu đàn nhỏ nhắn thanh nhã… những đường nét duyên dáng và sự tráng lệ của thân đàn ngay lập tức xâm chiếm trái tim tôi nhanh như dung nhan một tiên nữ giáng trần”. Segovia bắt đầu chơi và anh chơi tất cả những gì mình biết: Sor, Schumann, Tarrega, Mendelssohn. Những nhạc công khác đang vào cửa hàng nghe anh một cách thán phục. Khi anh chơi xong, Ramirez trao cho anh cây guitar. “Đừng bận tâm về giá”, ông nói, “Hãy hoàn lại cho tôi bằng gì đó không phải là tiền.”

Segovia đã chơi cây đàn này trong nhiều năm, mang nó đi khắp châu Âu và đã ghi âm lần đầu tiên với cây đàn này. Ông hồi tưởng lại một đêm “Tôi vừa kết thúc buổi độc diễn ở Berlin, khi đó đã có một âm thanh chói tai. Cây guitar của tôi đã bị nứt. Ngày tiếp theo tôi nhận được một điện tín: Manuel Ramirez đã từ trần vào đúng thời điểm sinh mạng của cây guitar kết thúc”. Nhưng điều đó để sau hãy nói.

Như một người trẻ tuổi, dù được trang bị một nhạc cụ tuyệt vời và một nhạc mục không giống các nghệ sĩ guitar khác, Segovia nhận thấy rằng thành công của mình đến chậm và ít một. Mọi nơi anh từng chơi, anh đều chiến thắng được thành kiến cho rằng cây guitar là một nhạc cụ dân gian phù hợp nhất để đệm cho các ca sĩ và vũ công. Buổi trình diễn lần đầu ở Madrid của anh năm 1912 nhiều nhất cũng chỉ là một thành công khiêm tốn và không có bình luận nào của giới báo chí.

Vì những khoản tiết kiệm đã eo hẹp, Segovia lo lắng. Ramirez giúp đỡ anh, tìm cho anh một nhà bảo trợ sẵn sàng chi trả cho một buổi hoà nhạc riêng. Segovia đã nỗ lực chống lại sự lãnh đạm và thiếu hiểu biết. Nữ hoàng Victoria Eugenia đã mời Segovia vào cung để chơi cho bà nghe. Khi anh đang tự mặc bộ triều phục đi mượn và đọc bản quy tắc về nghi thức triều đình, anh nhận ra ngôi sao lôi cuốn là một ca sĩ nam cao nổi tiếng. Sau khi anh kết thúc phần giới thiệu cho buổi hoà nhạc của mình, Nữ hoàng mỉm cười với anh và tìm một lời khen thiện chí.

“Chàng trai”, bà nói, “anh hãy chơi như… như… như một cái hộp nhạc!” (hộp nhạc – music box – máy chơi nhạc bằng dây cót – ND)

Segovia khom mình xuống và chấp nhận sự so sánh buồn cười. “Tôi chưa đạt đến sự hoàn hảo đó, tâu Lệnh Bà”, anh nói.

Đã thực hiện một thập kỷ hoà nhạc ở Tây Ban Nha, năm 1919, Segovia bước vào chuyến lưu diễn đầu tiên trong nhiều chuyến đến Mỹ Latin. Ngay sau buổi hoà nhạc lần đầu thành công ở Paris của ông vào năm 1924 (cùng các nhà soạn nhạc Pháp Maurice Ravel, Paul Dukas và nhà soạn nhạc người Tây Ban Nha Manuel de Falla trước khán giả) ông bắt đầu lưu diễn đều đặn ở Pháp, Anh, Đức, Nga Soviet. Trong khi đón nhận cơ hội đi diễn thường xuyên, ông còn lâu mới thích thú việc buộc phải di chuyển. “Một lần tôi hỏi một dũng sĩ đấu bò điều gì khó nhất trong nghề đấu và giết bò tót”, Segovia hồi tưởng, “và anh ấy nói: ‘tàu hỏa’. Với tôi cũng vậy.”

Mặc cho sự gian khổ của những chuyến lưu diễn, Segovia dần tạo dựng danh tiếng của ông ngang với tạo dựng thính giả của ông. Một nhà phê bình của tờ Thời báo London khá tiêu biểu cho giới phê bình châu Âu trong việc pha trộn giữa sự quan tâm kể cả một cách đồng bóng của mình với lòng ngưỡng mộ dành cho một nghệ sĩ chân chính. “Trong sự thiếu hiểu biết hoàn toàn của chúng ta”, ông này viết, “chúng ta vừa đi, vừa mong đợi điều chúng ta không hoàn toàn hiểu, nhưng hy vọng, từ khi danh tiếng của ngài Segovia đến trước ngài và tên tuổi của J. S. Bach xuất hiện trong chương trình của ngài, điều đó đã làm chúng ta thoả mãn tính tò mò về một nhạc cụ có những sự kết giao lãng mạn mà không bị tổn thương nhạc tính. Chúng ta vẫn còn nghe đến nốt cuối cùng, đó là điều bất ngờ thú vị nhất của mùa diễn.”

Năm 1928, cuối cùng Segovia cũng thực hiện buổi diễn ra mắt trước thính giả New York, giới phê bình đã chào đón ông như một bậc thầy. Lawrence Gilman của tờ New York Her­ald Tribune đã viết rằng đây có khả năng là buổi độc diễn guitar cổ điển đầu tiên ở thành phố và tuyên bố rằng Segovia 34 tuổi “đã làm cho cây guitar cất tiếng cùng hơi thở với cây harpsichord của Landow­ska, cây cello của Casals, cây violin của Heifetz”. Olin Downes của tờ Times vô tư hơn khi biểu lộ sự thích thú: “Anh ấy thuộc về nhóm rất nhỏ các nghệ sĩ nhờ năng lực thực hành và tưởng tượng siêu việt mà tạo ra được một nghệ thuật của riêng mình và đôi khi dường như biến đổi ngay cả bản chất phương tiện truyền đạt của mình”. Segovia đã ký kết chỉ làm một buổi hoà nhạc; nhưng thay vào đó, ông đã làm 6 buổi trong vòng 5 tuần, tất cả đều bán hết vé, và 25 buổi ở các thành phố khác trên khắp Hoa Kỳ.

Một đặc trưng đáng kể của những buổi hoà nhạc này là âm nhạc Segovia chơi. Trong khi danh sách các nhà soạn nhạc trong chương trình của những nghệ sĩ piano mới là Beethoven hay Chopin, buổi ra mắt ở New York của nghệ sĩ guitar lại đề cao những tên tuổi như Sor, Malats, Tarrega và Torroba. Một trong vài gương mặt quen thuộc là Bach, Segovia đã đưa vào chương trình 6 trong 15 lựa chọn của ông từ những tác phẩm của Bach. Nếu bây giờ Bach là một nhà soạn nhạc cho guitar, đó là nhờ có Segovia. Ví dụ bản sarabande mà nghệ sĩ đã chơi ở một buổi hoà nhạc được lấy từ một trong những tổ khúc cho đàn phím, và một fugue từ sonata cho violin.

Việc thiếu nhạc cho guitar cổ điển là một vấn đề đã làm đau đầu Segovia khi khởi nghiệp. Ban đầu khi nỗ lực để xây dựng những chương trình hoà nhạc, ông đã viết: “Vai trò của tôi là xây dựng nhạc mục!” Tất nhiên đã có một nhạc mục của âm nhạc thế kỷ XVI và XVII viết cho cả guitar và người em họ quý phái, cây dàn vihuela. Mặc dù rất nhiều tác phẩm đó đã bị thất lạc, vài tuyệt phẩm vẫn còn trong tuyển tập in lần đầu do nhà soạn nhạc Louis Milan xuất bản ở Valencia năm 1536. Trong thời trai trẻ của Segovia, bá tước Guillermo de Morphy, gia sư của vua Alfonso XII và người thầy thông thái của Casals, đã cùng đưa ra một tuyển tập các tác phẩm trong thế kỷ XVI rồi, và Segovia đã vui sướng làm chúng sống lại trên sân khấu hoà nhạc.

Nhưng sau thời kỳ Baroque, và đặc biệt là trong thời kỳ Lãng mạn tuyệt vời đang đơm hoa kết trái ở thế kỷ XIX, những âm thanh mảnh mai của guitar đã dần yếu thế khi những nhà soạn nhạc như Chopin, Schumann và Liszt lại khai thác những tính năng kịch tính của cây đàn piano.

Vì vậy, trong niềm say mê thay đổi thế giới hướng đến những vẻ đẹp của cây đàn guitar, Segovia đành phải chuyển soạn một nhạc mục trọn vẹn từ những nguyên tác viết cho các nhạc cụ khác. Ở một trong những chuyến lưu diễn đầu tiên tại Đức, năm 1920, Segovia đã dùng phiên bản của Hans Dagobert Bruger gồm những tác phẩm viết cho lute của Bach, vài tác phẩm trong đó đã được Bach chuyển soạn từ những nhạc cụ khác. Sự khám phá đó đã củng cố niềm say mê chiếm đoạt mọi thứ dành riêng cho guitar, kể cả bản Chaconne tráng lệ soạn cho violin độc tấu cũng có vẻ hợp với cây guitar yêu quý của ông.

Có lẽ chỉ Segovia mới có thể nhận ra bản Minuet trong Sonata Xon trưởng của Schubert có thể làm thành một tiểu phẩm duyên dáng cho guitar; có lẽ chỉ Segovia mới đủ táo bạo chơi chương chậm của sonata Pathetique mà Beethoven viết cho piano. Đến giờ, ông đã cày bừa và thu hoạch trên những cánh đồng đa dạng như các sonata của Scarlatti cho harpsichord, Những bức tranh trong phòng triển lãm của Mussorsky và các prelude cho organ của César Franck – tất cả hơn 200 bản chuyển soạn.

Sự trông đợi thứ ba của Segovia, ngoài việc khám phá và chuyển soạn âm nhạc, là truyền cảm hứng để các nhà soạn nhạc viết những tác phẩm mới cho cây guitar của ông. Ngay từ buổi diễn ra mắt ở Madrid của ông, trước Thế chiến thứ nhất, theo tự truyện, ông đã kiên quyết “giải phóng cây guitar bằng việc tạo ra một nhạc mục. Tôi đã nghĩ tới việc đến gặp Joaquinn Turina và Manuel de Falla – họ đã nổi tiếng rồi – và những nhà soạn nhạc nổi tiếng khác. Tôi sẽ đóng vai người hướng dẫn họ đi qua mê cung kỹ thuật guitar. Tôi sẽ thấy những ý tưởng âm nhạc của họ thành hiện thực trên nhạc cụ này. “Ông cũng nhìn thấy những kết quả có thể xảy ra: “Tôi thật kiêu căng! Phải chăng tôi đã nghĩ những vĩ nhân này sẽ theo lời mời của một nghệ sĩ chỉ mới khởi nghiệp?”

Tuy nhiên, trước chuyến lưu diễn đầu tiên tới châu Mỹ La tinh, Segovia đã làm quen với Federico Moreno Torroba, và Torroba đã viết cho ông một vũ khúc nhỏ thật duyên dáng. Khi Segovia trình diễn bản nhạc trước công chúng, ý tưởng này đã lan truyền. De Falla đã viết bản Homage a Debussy (Kính tặng tặng Debussy) và Turina thì viết Sevillana. Rồi Torroba đã viết một sonatine đầy quyến rũ mà Segovia đã chơi ở buổi ra mắt tại New York. Ở bất cứ nơi nào Segovia đến, ông đều khiến mọi người thay đổi chính kiến. Trong số những người thay đổi chính kiến do tác động từ ông có vài nhà soạn nhạc lỗi lạc như Darius Milhaud, Albert Roussel, Heitor Villa-Lobos và Joaquin Rodrigo, tất cả đều viết tặng ông những tác phẩm mới. Ở mức độ hoành tráng hơn là 2 concerto được viết tặng ông – Concerto giọng Rê trưởng của nhà soạn nhạc Mỹ gốc Ý Mario Castelnuovo-Tedesco và Concierto del Sur của nhà soạn nhạc Mexico Manuel Ponce.

Trong tất cả những chiến dịch của mình, Segovia nhận thức khá rõ rằng cây guitar có đầy rẫy những trở ngại kỹ thuật, rằng không phải mọi nhà soạn nhạc giới thiệu tác phẩm của họ cho ông giải quyết được những trở ngại đó. Ví dụ ông lưu tâm đến bản Homage của De Falla như một tác phẩm “có chất thơ sâu sắc” nhưng ông nói thêm rằng nó không thể được diễn ở những khán phòng lớn “vì nó sẽ bốc hơi mất”. Một ngày, nhà phê bình Martin Mayer đã thích thú nghe Segovia “sửa” một tác phẩm mới của Castelnuovo-Tedesco, và ông hỏi nó được viết cho nhạc cụ nào. “Cho guitar”, Segovia điềm tĩnh trả lời. Bất cứ thứ gì họ viết, tôi đều phải đưa chúng vào sở trường của tôi.”

Segovia tiếp tục suy nghĩ về vai trò của nghệ sĩ biểu diễn. “Mối quan hệ giữa tác giả và người diễn tấu như chuyện ngụ ngôn về Lazarus và Jesus”, ông nói với Mayer “Jesus đến gần mộ của Lazarus và nói:  “Thức dậy, đứng lên mà đi thôi”. Người diễn tấu cũng làm điều tương tự. Âm nhạc nằm chết dí trên bàn, bên trong bản nhạc. Và anh ta nói ‘Thức dậy, đứng lên mà đi thôi’. Sau khi Jesus thức tỉnh Lazarus, Lazarus đã thuộc về Jesus còn hơn thuộc về cha đẻ của chính mình.”

Tuy vậy, có một nhận xét cơ bản của chính những đánh giá thẩm mỹ của Segovia: rằng ông có khuynh hướng thiên vị bảo thủ hoặc truyền thống, và rằng nhạc mục của ông với những tác phẩm dị thường của Torroba hay Rodrigo khó thể hiện thời đại của Schoenberg và Bartok. Nhà phê bình Roland Gelatt đã viết: “Ông có vẻ nghi ngờ nghệ thuật đương đại – liệu nó có thực từ tay của Stravinsky, Joyce hay Picasso ra hay không – và vì vậy ông đã khiến cho nhạc cụ của ông nổi bật so vói nhiều tài năng hàng đầu của thời đại chúng ta”. Lời nhận xét đã không làm phiền Segovia. “Tôi đã quá già để tiếp nhận thứ âm nhạc chói tai kinh khủng này”, ông nói, “Các nhà soạn nhạc đang thử nghiệm tiếng ồn. Khi tiếng ồn trở thành âm thanh và âm thanh thành âm nhạc, tôi sẽ có ý kiến.”

Segovia luôn là một nhạc sĩ Lãng mạn (ông vẫn chơi Bach trước sự ngạc nhiên của vài người theo chủ nghĩa thuần tuý), chính vì là một nhạc sĩ Lãng mạn mà ông đã đều đặn gặt hái thành công tăng dần trong đầu năm 1930. Rồi biến động rối ren của cuộc Nội chiến Tây Ban Nha đã đến. Segovia, đang sống ở Barcelona, đã bắt đầu nhận một cuộc gọi đe doạ từ các đội viên dân phòng cánh tả. Ông bỏ trốn đến Genoa mà không có hành lý gì ngoài hai bộ lễ phục mùa hè. “Tôi sớm nghe tin nhà mình ở Barcelona đã bị cướp phá”, sau này ông kể lại, “Bọn cướp ngu dốt đã bán những đồ đạc quý và những xuất bản phẩm đầu tiên với giá rẻ mạt. Bất kể thứ gì không bán được chúng đổ dầu đốt. Một lũ người đáng khinh!”

Chính trị đã và vẫn là một vấn đề không đáng quan tâm với Segovia. Sự phản đối công diễn trong thời gian dài của Pablo Casals, như một sự phản kháng chống lại chế độ của Franco ở Tây Ban Nha (Chế độ độc tài – ND), đã làm cho Segovia thoáng buồn. “Chúng tôi bất đồng với nhau về nhiều thứ” ông từng nói.

Nhìn chung với ông, chính trị có vẻ là một sự đối lập chính xác với nghệ thuật của chính mình. Trong chính trị ông chỉ thấy sự hỗn loạn, ông giải thích với người phỏng vấn, và rồi hất hàm về phía cây guitar của mình. “Và đây là trật tự tuyệt đối, trật tự và kỷ luật cho mọi thứ”. Rồi như thường lệ với Segovia, ông minh hoạ quan điểm của mình bằng một câu chuyện nhỏ: “Có ba người bạn. Một trong số họ nói: ‘Nghề của tôi lâu đời nhất thế giới vì tôi là bác sĩ phẫu thuật. Khi Chúa Trời tạo ra đàn bà Người làm bằng một cái xương sườn của người đàn ông và đó là một ca phẫu thuật. Nghề của tôi lâu đời nhất.’ Người thứ hai nói: ‘Nghề của tôi lâu đời hơn nghề của anh. Trước khi tạo ra đàn bà từ xương sườn của đàn ông, Người đã sắp xếp lại trật tự vũ trụ, tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, điều nói có nói trong Kinh thánh. Đó là một công việc của kỹ sư. Tôi là kỹ sư. Nghề của tôi là nghề lâu đời nhất’. Người thứ ba nói: ‘Không, không, không. Trước khi Chúa Trời đặt tất cả những thứ đó vào vũ trụ, đã có sự hỗn loạn  rồi – và tôi là một chính trị gia’”.

Tuy nhiên đây không phải là lúc có thể né tránh chính trị. Trước Thế chiến thứ 2 Segovia đến sống ở Montevideo, Uruguay. Năm 1942, ông đi New York du lịch dưới sự che chở của người đại diện mới, ông bầu Sol Hurok. Nhưng New York thời chiến chứa chấp nhiều nhạc sĩ tỵ nạn nổi tiếng, và ngay cả Hurok quyền lực cũng không thể tìm thấy ông.

Có nhiều vé đặt từ đầu mùa diễn đầu tiên đó. Nhưng một Segovia ở tuổi 50 không phải là người nôn nóng. Ông biết rõ rằng bất kỳ thính giả nào đã nghe ông đều muốn nghe ông lần nữa, và rồi điều đó đã xảy ra ở Mỹ trong những năm 1940 và 1950. “Cuộc đời tôi đã có một sự cất cánh”, có lần ông từng nói, “chậm, nhưng là một sự cất cánh. Nó đã đến, mọi thứ đã đến”. Có vài người mô tả sự nổi lên của Segovia như một siêu sao, sự thu hút mạnh mẽ của ông với giới trẻ, từ lần xuất hiện trên một trong những chương trình truyền hình đầu của Ed Sullivan vào khoảng năm 1950, mọi người đều nghĩ rằng thành công của ông là tất yếu.

Khi tự học bất kỳ chi tiết kỹ thuật nào, Segovia vẫn là tín đồ suốt đời của nguyên tắc “tập và tập nữa”. Thậm chí khi đã gần 80 tuổi, ông nói với người phỏng vấn: Ông vẫn tập hai tiếng rưỡi mỗi sáng, hai tiếng rưỡi mỗi chiều và đôi khi hơn một tiếng vào buổi tối. “Khi tôi được hỏi tại sao tôi tập nhiều thế”, ông nói thêm, “Tôi trả lời rằng việc đó giống cái thang của Jacob (chuyện trong kinh Cựu ước – ND). Các thiên thần vẫn trèo lên xuống từng bậc một kể cả khi họ đã có cánh”.

Ngay cả các nghệ sĩ điêu luyện nhất cũng thường xuyên nghi ngờ về những đôi cánh thiên thần cho đến phút chót, và Segovia không phải là ngoại lệ. Christopher Nupen, người đã làm bộ phim truyền hình về Segovia trong năm 1967, nhớ lại rằng nghệ sĩ đã dùng khoảng hai ngày để chuẩn bị cho một buổi diễn. “Ông không đi ra ngoài muộn vào đêm trước, ông thức dậy vào buổi sáng và tập luyện, ông nghỉ ngơi vào buổi chiều, ông trở nên bồn chồn vào khoảng 5 giờ”, theo Nupen. “Lúc 8 giờ ông ở một trạng thái kinh khủng, ông đi ra thềm, và rồi chậm rãi, ông bình tĩnh lại và ông đi đến buổi diễn”.

Một cộng sự khác, Peter Klein, một ông bầu ở New York thường đi lưu diễn với Segovia có cái nhìn khác chút ít. “Segovia không lo lắng mà chỉ tập trung”,  ông nói. “ Ông chủ yếu chơi cho chính mình”. Nhưng Klein cũng nhớ Segovia bắt đầu tập đàn trước bữa sáng trong ngày có buổi diễn ở New York. Ông hầu như không ăn gì trước một buổi diễn, chỉ một miếng bánh ngọt hoặc bánh nướng và một ly sữa vào buổi chiều, vì Segovia cho rằng “sữa ở đây thật tuyệt”. (Sau buổi diễn sẽ có một ly rượu anh đào và có thể có một miếng bít tết hoặc ít trái cây tươi, ông thích quýt.) Segovia tổng kết lại vấn đề lo lắng trước buổi diễn của mình bằng phong cách súc tích thường thấy. “Việc bắt đầu một buổi hoà nhạc luôn là sự tra tấn, và tôi thích hủy diễn”, một lần ông nhắc Nupen. “Và rồi đến lúc cuối buổi, tôi sẽ thích bắt đầu lại.”

Truyền hình – mặc dù ông ghét nó và có lần ông đã phàn nàn về sự đáng ghét của “khuôn mặt hà mã nhỏ thó” của mình – vẫn là một phần ko thể thiếu trong chiến dịch quảng bá guitar của ông, cũng như những lớp master class ông đã dạy từ California đến tận Siena. Mạng lưới truyền hình giáo dục Mỹ đã phát loạt phim về các lớp học của Segovia tại trường nhạc mà ông giúp thành lập vào năm 1958 tại Santiago de Compostela ở Tây-Bắc Tây Ban Nha. Những lớp học đó lèn chật ních học sinh – phần lớn trong số họ đã khiếp sợ, theo lời một trong những học sinh cũ của ông, John Mills. “Phương pháp dạy của của Segovia dành cho quy mô rộng rất trực tiếp”, Mills tường thuật. “Ông sẽ bắt bạn dừng chơi khi nói rằng ông không thích câu chạy nào đó, và rằng nó phải được chơi thế này. Rồi ông minh họa trên đàn, sau đó không lời giải thích nào thực sự cần thiết nữa.”

“Ông sẽ gợi ý dùng ngón nào, chỗ nào chơi rung, to dần và tương tự thế”, John Williams nói thêm, “nhưng bài giảng của ông không bao giờ đi quá xa bài giảng mẫu. Đó là bài giảng có tính giải thích với cái nhìn hướng về cách chơi của bạn như cách ông đã chơi. Đó không phải lời chỉ trích ông nhưng có thể là lời chỉ trích những học sinh không phát triển cá tính của chính mình. Nhưng phải nói rằng, cả tính cách và cá tính chơi đàn của Segovia đều mạnh mẽ nên anh không thể thoát khỏi sự ảnh hưởng của ông.”

Chàng trai Julian Bream được cha mình dẫn đến khách sạn London nơi Segovia ở vào một ngày năm 1947. Đôi tay của chàng trai run lẩy bẩy khi đánh vật từ đầu đến cuối một etude của Sor, nhưng Segovia ân cần gợi ý một vài sắc thái trong cách diễn tấu, rồi ông mượn cây đàn của Bream để giải thích ông muốn nói gì. “Hầu như không thể mô tả được ấn tượng khi nghe ông chơi từ khoảng cách 3 hoặc 4 bộ (khoảng 0,9 hoặc 1m)”, sau này Bream nói. “Tôi đã bị hạ gục không chỉ bởi vẻ đẹp của âm thanh mà còn bởi chiều sâu của tiếng đàn và đặc biệt là sự đa dạng mênh mông của âm thanh ông tạo ra với tiếng đàn lộng lẫy đặc trưng đó.” Bream tóm gọn cách chơi đàn của Segovia thế này: “Chính như thế, Chúa đã xuống trái đất”.

Mặc dù Bream chỉ học vài buổi với Segovia, anh đã có ấn tượng sâu sắc từ cả cách diễn tấu lẫn kỹ thuật của người đàn ông già hơn mình. Ngay cả đôi bàn tay to lớn của Segovia dường như cũng được tạo ra cho cây guitar, bàn tay trái nặng nề tới mức có thể tạo ra áp lực mạnh để bấm trên các dây, song với những đầu ngón tay búp măng như thế ông có thể di chuyển khéo léo trên bàn phím một cách dễ dàng. Nhưng sự điêu luyện là kết quả của những năm nghiên cứu và làm việc. “Mọi phần trong hành trang kỹ thuật của ông đã được tìm ra một cách rất thấu đáo và rất trí tuệ”, Bream hồi tưởng. “Ông đã hợp lý hoá kỹ thuật đến mức đạt được sự kiểm soát tuyệt vời nhất. Kỹ thuật chính là đây. Ông sử dụng tay phải để thực hiện kỹ thuật theo cách chỉ có thể gọi là “cứng nhắc thả lỏng”. Đó chính là việc sử dụng trọng lực của cổ tay để đạt được tiếng đàn vang nhất mà tay di chuyển ít nhất”.

Mặc dù sự chăm chỉ đã thu được trình độ điêu luyện, Segovia vẫn nhận thức sâu sắc rằng cây guitar của ông tự nó là sự kết hợp độc đáo của gỗ, sự rung của các dây và không khí loãng. Sự độc đáo này không thể lý giải. Một cây guitar, ông nói, “như một dàn nhạc được nhìn xuyên suốt bằng một cặp mắt riêng: nhỏ và thân quen mê hoặc. Trong nó dàn nhạc thật tinh tế và cô đặc, như hàng trăm hương thơm của núi rừng trong một chiếc chai nhỏ”. Hoặc: “hai trong số những tạo vật của Chúa, con chó và cây guitar, đã lĩnh đủ mọi kích thước và mọi hình dạng để không bị tách rời khỏi người đàn ông.”

Khi Segovia đi lưu diễn với cây đàn Ramirez tại Đức vào đầu năm 1920, ông đã đặt nhà chế tác violin ở Munich tên là Hermann Hauser làm cho ông một cây đàn mới. Hauser đến xem xét kỹ cây Ramirez rồi làm một cây copy rất đẹp, nhưng nó đã có một thiếu sót bất ngờ: “nó không có hồn”, Segovia nói. Hauser quay lại xưởng làm vài cây copy nữa, tiếp tục đem chúng đến cho Segovia và tiếp tục để chúng bị loại bỏ. Phải mất gần 10 năm Hauser mới hoàn thành được một cây đàn làm vừa lòng Segovia. Ông chế tác nó bằng gỗ lấy từ một cây đàn harpsichord thế kỷ 17. Segovia đã chơi nó trong 25 năm đến khi nó bộc lộ sự buồn tẻ khác thường ở những âm vực nào đó, rồi ông “bỏ lại ở Madrid để nó yên nghỉ”. Bây giờ ông chơi một cây Ramirez và một cây Fleta được chế tác ở Barcelona, cây đàn ông gọi là “một cây guitar xuất sắc”.

Những âm thanh của những cây đàn đầu tiên này, cũng như sự điêu luyện của Segovia thời trẻ, đã được ghi âm trực tiếp trong vài tá đĩa 78 vòng/phút mà ông bắt đầu thực hiện vào năm 1922. Khi cuộc cách mạng công nghệ đĩa LP (đĩa vinyl với 2 tốc độ phổ biến 45 và 33 vòng/phút – ND) bắt đầu vào năm 1948, Segovia bắt đầu một loạt các bản ghi âm mới với hãng ghi âm Decca mà rốt cuộc số lượng lên tới hơn 20 bản trước khi ông rời Decca vào năm 1973. Ông đã thực hiện một số một số bản ghi âm sau đó với những hãng khác, nhưng một phần đáng kể trong nhạc mục khổng lồ của Segovia vẫn chưa được ghi âm.

Khi đã tám mươi Segovia tiếp tục đeo đuổi một kế hoạch sẽ làm nản lòng người chỉ 60 tuổi. Ông thường xuyên thực hiện hơn 100 buổi hoà nhạc mỗi năm ở tuổi ngoài 70, và trong một chuyến lưu diễn điển hình ở Mỹ khi đã 84 tuổi ông đã xuất hiện 17 lần, theo báo chí mỗi lần nhận thù lao 6.000 dollars. Năm tiếp theo là năm kỷ niệm vàng lần diễn đầu tiên của ông ở New York, và năm sau đó ông đã diễn lần đầu ở Nhà Trắng. “Điều bi kịch là tất cả những người già thực sự vẫn trẻ ở bên trong”, ông đã bình luận. “Nhưng những người khác không thể thấy họ trẻ thế nào. Họ chỉ thấy vẻ bề ngoài.”

Vài nhà phê bình đôi khi phàn nàn rằng tiết tấu của Segovia trở nên do dự, nhịp độ của ông uể oải, những chỗ luyến lãng mạn và dãn nhịp hầu như kỳ cục, nhưng bậc thầy già vẫn tự thấy vô song như thường thấy. “Không ai có óc xét đoán đến một buổi độc tấu của Segovia để nghe tốc độ bộ đĩa”, Donal Henahan của tờ New York Times quan sát thấy trong năm 1981. Ông giải thích rằng Segovia đã có “bước đi ung dung của người kể chuyện tự tin. Ông có nhiều màu sắc hơn Crayola. Tiếng đàn của ông bị thiếu vài đê-xi-ben nhưng nó không kêu nhỏ lại nhiều đến nỗi xa với chất thơ. Ông đã đạt đến tầm cỡ vương giả đến mức có thể dừng một bản fugue của Bach sau nửa tá nốt, lên lại dây và bắt đầu lại mà không hề làm ai bị sốc.”

Quả là ông đã thành một người kể chuyện tự tin. Tại một bữa tiệc trước buổi hoà nhạc ở Washington năm 1963, ông nói với những khách mời khác về niềm vui của mình trong cuộc sống. “Khi tôi còn rất trẻ”, ông nói, “Tôi đã cầu xin Chúa Trời rằng tôi là một kẻ tội đồ xấu xa không xứng với vinh quang của Người, xin Người bỏ tôi lại ở đây. Và tôi vẫn đang thích hành tinh này.” Sự thích thú của Segovia với hành tinh này luôn được tạo cảm hứng từ phụ nữ và cây guitar, ông nghĩ mỗi thứ trong đó là giới hạn của thứ kia. Và cho dù ông đã khởi đầu là “người chung thuỷ với guitar” và “không đa thê”, ông cũng gợi ra một sự tương đồng có phần khác biệt: “Tôi đã có ba người vợ và ba cây guitar hợp pháp, nhưng trong lúc đang tán tỉnh nhiều người khác.”

Khi sự nghiệp của Segovia mới bắt đầu, ông được một cô gái đẹp 15 tuổi đến thăm ở hậu trường, một nghệ sĩ piano học Granados và là người đã khen ngợi nghệ sĩ guitar về phần trình diễn một khúc andante của Mozart. Segovia ngạc nhiên trước “cặp mắt xanh rất to, chiếc mũi thanh tú, cặp môi đẹp nhoẻn nụ cười, một thân hình mảnh mai duyên dáng… ánh mắt mê đắm của cô ấy… Một giọng nói nội tâm bí ẩn dường như nhẹ nhàng bảo với tôi rằng cô ấy và tôi đã có số gặp nhau thường xuyên… quả thực chúng tôi đã làm thế. Cô ấy trở thành vợ tôi một thời gian sau đó.” Cuộc hôn nhân đầu tiên năm 1918 đó đã kết thúc bằng việc ly hôn; ông tái hôn vào năm 1936, và lại ly hôn lần nữa. Con trai cả của ông tên là Andrés sinh năm 1922 và là hoạ sĩ sống ở Paris. Hai người con sau của ông, một trai và một gái đều qua đời đột ngột.

Những mất mát đó góp phần vào âm điệu thoáng buồn ở Segovia, và trong âm nhạc của ông. “Ông là người tin vào định mệnh”, một người bạn từng nói. “Ông đã trải qua nhiều. Ông nhận thức rất rõ rằng có những điều tồi tệ trong cuộc sống, rằng có những hạn chế.” Hoặc như có lần ông đã diễn đạt khi được hỏi liệu ông có phải là người ngoan đạo không: “ Hết sức ngoan đạo mà không có tín điều. Một người Công giáo nhưng là người Công giáo sao nhãng.” Tuy nhiên cũng người bạn này nhấn mạnh tính dí dỏm và hài hước của Segovia và thậm chí cả việc thích trêu đùa của ông. “Đôi khi, ông có thể như một đứa bé nghịch ngợm”, người bạn nói, “như ai đó không có thời gian nghịch ngợm khi còn là trẻ con nên hiện giờ đang nghịch ngợm”. Và dù rằng Segovia có rắc rối nghiêm trọng về thị lực trong những năm gần đây – chứng bong võng mạc và đục thuỷ tinh thể đã được điều trị bằng phẫu thuật – người bạn này nói thêm: “Tôi vẫn ước rằng mình có thể nhìn thế giới theo cách nhìn của Segovia.”

Nếu một nghệ sĩ lớn đã ngoài 80 và vẫn có nghệ thuật của mình, vẫn có gia đình, sức khoẻ và sự thành đạt, vậy cuộc đời có thể xem như thực sự mãn nguyện. Nhà phê bình Alan Rich đã viết vài năm trước khi đến thăm Segovia ở Madrid và đơn giản là mong muốn được trò chuyện về âm nhạc. Rich viết: “Thay vào đó ông đã dành cả buổi chiều để sát hạch tôi về các tiểu phẩm điêu khắc, hội hoạ, và với niềm kiêu hãnh lớn nhất, một số lượng lớn đá quý kiểu Ý mà ông đã kiếm được. Việc này giải thích vị thế đặc biệt của ông theo một chặng đường dài. Ông là một trong những nhân vật hiếm hoi từ nay về sau có cái nhìn thẩm mỹ hoàn hảo và tuyệt đối.”

Trong tất cả những câu chuyện của mình, Segovia  thích kể nhất về việc người con trai út khám phá dần cái thế giới mà Segovia đã thấy trong thời gian dài. Carlos đã biết từ thơ ấu rằng có vài điều bất thường về cha mình. Khi Carlos lên 5, cậu bắt đầu đến trường, và Segovia đã hồi tưởng về ngày đầu tiên của cậu ở lớp. “Các giáo viên hỏi bọn trẻ cha của chúng làm gì”, ông nói. “Cha của một cậu bé là cảnh sát, người khác là bác sĩ. Khi đến lượt Carlos, nó chỉ trả lời: “Cha con là một sinh viên guitar.”

Otto Friedric

Trịnh Minh Cường (nhaccodien.info) dịch