TIỂU SỬ

Wilhelm Furtwängler, tên đầy đủ là Gustav Heinrich Ernst Martin Wilhelm Furtwängler, sinh ngày 25 tháng 1 năm 1886 tại Berlin. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật; cha của ông, Adolf, là một nhà khảo cổ và nhà nghiên cứu văn hóa Hi Lạp; còn mẹ ông, Adelheid, là một họa sĩ nghiệp dư. Không có mấy thành viên trong gia đình Furtwängler đi theo con đường âm nhạc, nhưng ông lại bộc lộ sự đam mê của mình với âm nhạc khi mới 7 tuổi, và đã sáng tác tác phẩm đầu tiên của mình trong vòng 1 năm trong lúc học những kĩ thuật cơ bản về piano và nốt nhạc. Âm nhạc của ông lúc này mang hơi hướng của những kỷ niệm về thời thơ ấu, thể hiện sự hiểu biết sắc bén, một phong cách rất khác biệt so với những bạn học và những người đồng trang lứa. Tuy nhiên ông không thích bị gò bó trong trường học, cộng với tình yêu thiên nhiên, thường tha thẩn thả hồn cho mơ mộng, nên ông không có nhiều bạn và thường thì chỉ có một mình.
 Khi Furtwängler lên 8 tuổi, cha ông đến Đại học Munich để làm giáo sư chuyên ngành khảo cổ học, thế nên cả nhà chuyển đến sống ở vùng quê Bavaria. Khoảng 4 năm sau đó, cha mẹ ông phát hiện thấy con mình có vẻ chán nản ở trường học; không nghe lời giáo viên khiến ông không được coi trọng ở trường, kéo theo mối quan hệ với các bạn học cũng không suôn sẻ. Adolf quyết định cho cậu con trai mình nghỉ học và sẽ cho người dạy kèm ở nhà. Bắt đầu từ năm 12 tuổi, Furtwängler không bao giờ đến trường nữa. Ông học nhiều môn khác nhau, nhưng thu hút ông mạnh mẽ nhất vẫn là âm nhạc. Ông học piano với một số bà con trong gia đình, đến năm 14 tuổi thì học sáng tác với nghệ sĩ organ và cũng là nhà soạn nhạc Josef Rheinberger. Rheinberger cho Furtwängler học nhiều những tác phẩm tứ tấu đàn dây của Ludwig van Beethoven. Càng học càng thêm yêu âm nhạc khiến chàng trai Furtwängler quyết định sẽ đi theo con đường trở thành nhà soạn nhạc mà cha mẹ ông không theo.
 Năm 1903, khi được 17 tuổi, Furtwängler sáng tác xong bản giao hưởng đầu tay của mình (giọng Rê trưởng). Tuy nhiên, tác phẩm được cải biên lại và do một người chú của ông chỉ huy đã không thành công. Nhưng điều đó không làm ông chán nản, Furtwängler vẫn quyết tâm trở thành một nhà soạn nhạc tên tuổi. Mặt khác, ông bắt đầu quan tâm đến vấn đề chỉ huy dàn nhạc, vì khi đó chính ông có thể chỉ huy trình diễn những tác phẩm của mình. Ông bắt đầu học chỉ huy từ năm 1905, trong khi đang là nhạc công đàn piano ở Municipal Theater ở Breslau, Silesia. Năm sau, ông được cử vào vị trí người chỉ huy dàn nhạc thứ ba ở Zürich Opera House. Không may cho ông, Furtwängler buộc phải nghỉ việc sau buổi công diễn tẻ nhạt một vở operetta. Tuy nhiên, nhờ những kinh nghiệm ở Zürich đã giúp ông chuộc lại những sai lầm qua buổi hòa nhạc sau đó do ông chỉ huy, giới thiệu các sáng tác của ông cũng như overture “Die Weihe des Hauses” của Beethoven và Bản giao hưởng số 9 giọng Rê thứ, WAB. 109 của Anton Bruckner – một điều quá lớn lao với một chàng trai mới 20 tuổi.
 Vào độ tuổi 20, Furtwängler phơi bày ra trước mọi người về khả năng “thôi miên” đối với nhạc sĩ và thính giả, cũng như thể hiện tài năng vượt trội của mình trong việc xử lý những cấu trúc âm nhạc lớn và những chuyển giọng phức tạp. Những kĩ năng ấy hầu hết do ông tự học, nhưng cũng có vài điều học được từ Arthur Nikisch, người lúc đó đang là giám đốc âm nhạc ở Berlin Philharmonic và Leipzig Gewandhaus Orchestra, đồng thời cũng là một người chỉ huy tên tuổi vào lúc đó. Nikisch thường xuyên có mặt ở các buổi hòa nhạc, gây ấn tượng mạnh trong việc đưa thính giả lẫn nhạc sĩ đi vào trạng thái thôi miên, chính điều đó thúc đẩy Furtwängler nối bước ông.
 Từ năm 1907 đến 1909, Furtwängler giữ vai trò người chỉ huy dàn hợp xướng của Munich Court Opera, nơi ông bắt đầu chịu sự ảnh hưởng của học trò Wagner là Felix Mottl. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm người chỉ huy dàn nhạc thứ ba ở Municipal Opera, Strasbourg, cùng làm việc rất gắn bó với Hans Pfitzner, một nhà soạn nhạc và chỉ huy có tiếng. Trong thời gian này, ông vẫn tiếp tục sáng tác, hoàn thành “Te Deum” (1910). Về sự nghiệp chỉ huy, ông gắn bó đến cuối đời những vở opera của Richard Wagner, Carl Maria von Weber, Ludwig van Beethoven, Wolfgang Amadeus Mozart và Giuseppe Verdi; ngoài ra ông cũng chỉ huy một số vở opera của 2 nhà soạn nhạc William Schwenck Gilbert và Arthur Sullivan cũng như những vở opera thuộc trường phái bel canto.
 Năm 1911, Furtwängler được bổ nhiệm thay thế Hermann Abendroth trong chức vụ tổng giám đốc âm nhạc ở Lübeck, một thành phố nằm ở miền Bắc nước Đức. Lúc này ông 25 tuổi và chưa mấy tiếng tăm, nhưng với sức sáng tạo của tuổi trẻ và niềm say mê âm nhạc cộng với tài năng của ông, đã gây ấn tượng mạnh đến giới nghệ sĩ trong ngành. Ở Lübeck, ông bắt đầu chỉ huy những tác phẩm đòi hỏi có kĩ năng cao như opera, hợp xướng và thơ giao hưởng với những nhạc công và ca sĩ của thành phố. Trong thời kỳ này, việc chỉ huy chiếm hầu hết thời gian của Furtwängler, nên công việc sáng tác phải tạm ngừng.
 Sự nghiệp của Furtwängler tiếp tục đi lên. Năm 1915, ông trở thành người chỉ huy hoàng gia (Court Conductor) ở Mannheim, chỉ huy tại nhà hát opera và dàn nhạc đã trở nên rất nổi tiếng từ thời Mozart. Tại đây, số lượng công việc tăng lên rất nhiều, và tiếng tăm cũng không ngừng lan xa. Năm 1917, ông có buổi biểu diễn thành công với Berlin Philharmonic, khi mới 31 tuổi. Năm 1920, biểu diễn thành công vang dội Bản giao hưởng số 8 giọng Đô thứ, WAB. 108 của Anton Bruckner. Ông là người kế nhiệm Richard Strauss ở Berlin State Opera Orchestra và Willem Mengelberg ở Frankfurt Museum Concert. Năm 1922, bất ngờ Arthur Nikisch chết vì bệnh cúm, Furtwängler đã có một buổi hòa nhạc cùng với Leipzig Gewandhaus Orchestra để tưởng nhớ ông, sau đó chính ông là người kế nhiệm Nikisch trong vai trò giám đốc âm nhạc. Theo sau đó, Furtwängler lại được cử vào vị trí chỉ huy chính ở Berlin Philharmonic, thay cho Nikisch đã quá cố. Lúc này, Furtwängler trở thành một trong những người chỉ huy danh tiếng nhất ở châu Âu ở độ tuổi 35.
 Theo sau những thành công vang dội, Furtwängler quyết định phát triển sự nghiệp ra ngoài nước Đức, ông bắt đầu biểu diễn với Vienna Philharmonic (1922), Royal Philharmonic (London, 1924) và New York Philharmonic (1925). Ở Berlin và Leipzig, ông nhanh chóng chiếm được cảm tình của thính giả và các nhà phê bình, lần lượt chỉ huy những tác phẩm của Arnold Schoenberg, Igor Stravinsky, Paul Hindemith và Béla Bartók song song với việc biểu diễn những sáng tác của những bậc thầy như Ludwig van Beethoven và Johannes Brahms.
 Sự nghiệp của Furtwängler bị gián đoạn vào năm 1926. Cuộc sống ở New York không thích hợp với con người trầm lặng và kín đáo của ông, cộng với giới phê bình chỉ trích ông khiến New York Philharmonic không chọn ông mà chọn Arturo Toscanini làm giám đốc dàn nhạc. Furtwängler rời New York vào tháng 4 năm 1927 trong tình trạng bẽ mặt và vỡ mộng. Ông không bao giờ đặt chân lên đất Bắc Mĩ nữa. Tiếp nối thất bại đó, ông lại vấp phải mâu thuẫn với Leipzig Gewandhaus Orchestra về việc ông không dành hết thời gian và tâm quyết cho dàn nhạc, dẫn đến việc từ chức năm sau đó (1928).
 Năm 1927, ông thay thế vị trí của Felix Weingartner ở Vienna Philharmonic. Việc này khiến ông trở thành chỉ huy chính của cả hai dàn nhạc danh tiếng ở Berlin và Vienna, ngoài ra còn giúp ông có điều kiện học hỏi thêm ở nhà lí luận âm nhạc người Áo Heinrich Schenker. Hai người nhanh chóng thân với nhau, cho đến khi Schenker qua đời vào năm 1935.
 Năm 1930, ông vẫn giữ vai trò chính trong 2 dàn nhạc ở Berlin và Vienna, nhưng sau cùng ông quyết định chỉ chọn Berlin. Ngoài ra, ông còn được bổ nhiệm chức giám đốc âm nhạc của Bayreuth Festival được tổ chức hằng năm. Vào lúc này, Furtwängler đã 47 tuổi, đang ở đỉnh cao của sự nghiệp sau những khó khăn trước đây.
 Rắc rối xảy đến vào năm 1932 khi Adolf Hitler lên cầm quyền và thành lập đảng Quốc xã. Trong bối cảnh đó, Hermann Göring, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Hitler, mong muốn xây dựng một trung tâm nghệ thuật cho mình qua công trình Prussian State Theaters (Nhà hát Quốc gia Phổ), trong đó bao gồm Berlin State Opera và giữ Furtwängler ở lại làm người điều hành Berlin State Opera.
 Trong thời kỳ này, nhiều người dân Đức gốc Do Thái bị phân biệt chủng tộc, chịu sự đối xử tàn bạo của bọn Quốc xã, trong đó có nhạc trưởng Bruno Walter, bạn của Furtwängler. Do những phản đối việc phân biệt đối xử với dân Do Thái, Furtwängler cũng bị giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, vì tình yêu tổ quốc và nghệ thuật, ông tiếp tục đấu tranh giúp đỡ những người gốc Do Thái và duy trì hai dàn nhạc ở Berlin và Vienna không để cho Hitler chi phối. Furtwängler sau đó bị tước bỏ hộ chiếu và quyền chỉ huy các dàn nhạc ở trong lẫn ngoài nước. Bị ngưng việc chỉ huy, ông chuyển sang sáng tác, nhưng tình yêu chỉ huy của ông vẫn còn mãnh liệt, cuối cùng xuống nước với Hitler, xin được chỉ huy trở lại. Sau khi được phép tiếp tục công việc, ông cùng với Berlin Philharmonic đi lưu diễn ở London và Paris. Ông chuyển sang cầm cây chỉ huy bằng tay phải khi đi ra sân khấu để tránh khỏi phải chào theo kiểu Quốc xã trước mỗi buổi diễn.
 Năm 1936, Arturo Toscanini từ chức ở New York Philharmonic và chỉ định Furtwängler là người thay thế xứng đáng. Nhưng đáng tiếc lúc đó, ông đang đi nghỉ ở Ai Cập, Göring ngay lập tức muốn giữ ông lại bằng cách khôi phục chức vụ của ông ở Berlin State Opera. Khi Hitler chiếm vùng Rhineland, vi phạm Hiệp ước Versailles, New York tuyên bố không mời Furtwängler nữa, nhưng đồng thời ông cũng không nhận lại chức vụ giám đốc ở Berlin State Opera, mà lại chuyển sang sáng tác (năm sau thì lại tiếp tục công việc chỉ huy).
 Năm 1938, khi chiến tranh thế giới nổ ra, cũng là thời điểm Herbert von Karajan bước vào sân khấu với vai trò chỉ huy, đối nghịch với Furtwängler. Giữa hai người nhạc trưởng này xảy ra cuộc đối địch trên bục chỉ huy. Và sau này chính Karajan trở thành người thay thế Furtwängler trong vai trò giám đốc âm nhạc của Berlin Philharmonic. Ở đất nước mình, Furtwängler lúc này không có chỗ đứng vững chắc, cộng thêm sự thù địch của bọn Quốc xã lúc này đang suy yếu, dẫn đến việc ông cùng gia đình bỏ trốn sang Thụy Sĩ (tháng 2 năm 1945).
 Tuy nhiên, ông không được đón tiếp ở đất nước trung lập này. Khi chiến tranh kết thúc, nước Đức bị chia làm 2 phần, phần Đông thuộc Liên Xô, phần Tây thuộc phe Liên minh Anh, Pháp, Mỹ. Trong thời gian đó, Furtwängler không có công việc gì làm mãi đến tháng 12 năm 1946, phe Liên minh mới cho phép ông hoạt động trở lại nhưng với tư cách thử việc. Tuy nhiên việc làm này bị nhiều nhạc sĩ phản đối với lí do ông từng phục vụ cho phátxít. Sau này, nhờ nhà báo người Đức gốc Do Thái Curt Riess và nghệ sĩ violin Yehudi Menuhin (cả hai lúc đầu phản đối) bênh vực, danh dự của ông phần nào được lấy lại. Trải qua nhiều lần kiểm tra, cuối cùng vào tháng 4 năm 1947, Furtwängler chính thức được công nhận là không dính líu gì đến bọn Quốc xã.
 Sau khi phục hồi công việc chỉ huy, Furtwängler bước vào thời kì bận rộn nhất với nhiều chuyến lưu diễn ở Tây Âu và Nam Mĩ. Riêng Bắc Mĩ chưa phải là điểm dừng chân của ông lúc này, vì ở đó còn có làn sóng phản đối ông. Đến năm 1948, Chicago Symphony Orchestra mời ông giữ chức giám đốc dàn nhạc thay thế cho Artur Rodzinski, nhưng Furtwängler viện lý do gặp khó khăn ở Mĩ nên chỉ chấp nhận làm việc cho dàn nhạc với tư cách là một khách mời. Nhưng việc kí kết hợp đồng bị phản đối mạnh mẽ dẫn đến cuối cùng phải hủy bỏ việc này.
 Trở lại châu Âu, Furtwängler vừa tiếp tục chỉ huy vừa thu âm. Ông cộng tác với hãng thu âm EMI Classics từ năm 1946. Tuy nhiên giữa ông và ông bầu của hãng là Walter Legge lại có sự mâu thuẫn với nhau. Legge cuối cùng mời Herbert von Karajan cộng tác với hãng, để làm đối trọng với Furtwängler.
 Tháng 7 năm 1952, ông bị suy sụp trong một buổi diễn tập do chứng bệnh viêm phổi. Việc điều trị căn bệnh này lại ảnh hưởng đến thính giác của ông, cái mà ông quý hơn tất cả. Tuy nhiên, ông vẫn muốn tiếp tục việc thu âm, có kế hoạch thu âm bộ 4 vở opera “Der Ring des Nibelungen” của Wagner, nhưng chỉ hoàn thành vở thứ 2 là Die Walküre vào mùa hè 1954. Furtwängler mất ngày 12 tháng 11 năm 1954 ở Baden-Baden sau khi căn bệnh phổi tái phát.
Văn Toàn (nhaccodien.info) tổng hợp

TÀI LIỆU LIÊN QUAN