Carmen

34
Âm nhạc: Georges Bizet
Libretto: Henri Meilhac và Ludovic Halévy dựa theo truyện ngắn của Prosper Mérimée
Công diễn lần đầu: ngày 3 tháng 3 năm 1875 tại Paris.
Nhân vật: Loại giọng
Carmen: Mezzo-soprano
Don José: Tenor
Escamillo: Bass-baritone
Micaella: Soprano
Tóm tắt nội dung
Màn 1. Hạ sĩ Moralès và những người lính đang giết thời gian bằng việc ngắm nhìn đám khách qua đường, trong đám đó có Micaëla, một cô gái quê đến từ Navarre. Cô hỏi Moralès xem ông có biết Don José không và được trả lời rằng anh là một hạ sĩ ở trung dội khác chẳng bao lâu sẽ tới thay phiên gác. Để tránh lời mời mọc bước vào trạm gác của họ, Micaëla né đi chỗ khác. Kèn trumpet cất lên triệu tập không chỉ những người đang phiên gác mà cả một nhóm những cậu bé đường phố đang bắt chước tập luyện. Khi những người lính gác đã thay phiên, Moralès cho José biết về cô gái đang tìm anh. Zuniga, trung úy chỉ huy toán gác mới, hỏi hạ sĩ José về nhà máy thuốc lá. Là một người lạ ở Seville, Zuniga đang sợ hãi về bầu không khi nguy hiểm ở địa phương. Chuông nhà máy cất lên và những người đàn ông Seville tụ tập quanh những nữ công nhân khi họ trở lại sau giờ nghỉ ăn trưa. Cô gái digan Carmen đang chờ đợi với trạng thái cảnh giác. Khi những người đàn ông tụ lại quanh cô, cô bảo họ rằng tình yêu không tuân thủ luật lệ nào cả (Habañera: “L’amour est un oiseau rebelle”). Chỉ có một người đàn ông không chú ý tới cô – Don José. Carmen ném một bông hoa vào anh. Những người phụ nữ trở vào nhà máy và đám đông giải tán.
Micaëla trở lại, mang cho José tin tức về mẹ anh. Bà đã gửi Micaëla, người đang sống với bà, đem cho anh một bức thư (“Parle-moi de ma mère”). José cảm thấy mẹ mình đang bảo vệ mình từ xa. Khi anh bắt đầu đọc thư mẹ thì Micaëla bỗng lúng túng bởi vì bức thư đó đề nghị anh cưới cô. Vào lúc anh quyết định vâng lời thì nghe thấy tiếng một vụ cãi lộn trong nhà máy. Các cô gái ùa ra đang tranh cãi gay gắt về chuyện đã xảy ra, song chắc chắn rằng Carmen và một cô công nhân bạn đã tranh chấp với nhau và cô gái kia đã bị thương. Carmen bị José dẫn đi và từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào của Zuniga, José được ra lệnh trói cô lại và đem cô tới nhà tù. Carmen dụ dỗ anh tới khiêu vũ tại quán trọ Lillas Pastia bên ngoài thành Seville (Séguedille: “Près des remparts de Séville”). Bị mê hoặc, José đồng ý giúp cô trốn thoát. Anh cởi dây trói và khi họ đến nhà tù, cô lẩn mất. Don José bị bắt giữ.
Màn 2. Carmen và những người bạn của mình, Frasquita và Mercésdès tiếp đãi Zuniga và những sĩ quan khác (“Les tringles des sistres tintaient”). Zuniga bảo Carmen rằng José đã được thả đúng ngày hôm đó. Nghe thấy tiếng một đám rước đuốc tôn vinh dũng sĩ đấu bò Escamillo, những sĩ quan mời anh ta vào. Anh ta miêu tả niềm hào hứng về nghề nghiệp của mình, đặc biệt là những phần thưởng tình ái theo sau một dũng sĩ đấu bò thành công (Toreador’s Song: “Votre toast”). Rồi Escamillo gạ gẫm Carmen nhưng Carmen trả lời rằng lúc này cô đã có hẹn, anh ta nói sẽ đợi. Carmen từ chối đi cùng Zuniga, người dọa rằng sẽ trở lại sau. Khi nhóm người này đã giải tán, những kẻ buôn lậu Dancaire và Remendado bước vào. Chúng có một phi vụ trong tầm tay mà trong đó việc những người phụ nữ đồng lõa với chúng là rất cần thiết. (“Nous avons en tête une affaire”). Frasquita và Mercédès liều lĩnh, nhưng Carmen từ chối rời Seville: cô đang yêu. Những người bạn của cô nghi ngờ. Từ xa có tiếng hát của José (“Dragon d’Alcala”). Những kẻ buôn lậu rút lui. Carmen kể với José là cô đã nhảy múa cho những sĩ quan của anh. Khi anh tỏ ra ghen tuông, cô đồng ý chỉ tiếp đãi một mình anh (Finale: “Je vais danser en votre honneur”). Có tiếng kèn triệu tập vang lên. José nói anh phải trở về doanh trại. Ngạc nhiên, Carmen chế giễu anh nhưng anh trả lời bằng cách đưa ra bông hoa mà cô đã ném và tỏ bầy với cô rằng hương thơm phai tàn của nó đã giữ vững tình yêu của anh suốt những tuần lễ đằng đẵng trong tù (Flower Song: “La fleur que tu m’avais jetée”). Nhưng cô đáp lại rằng anh không yêu cô, vì nếu yêu thì anh đã đào ngũ và cùng cô sống một cuộc đời trên núi. Tan nát vì nghi ngờ khi rốt cuộc anh từ chối, cô khinh khỉnh đuổi anh. Lúc anh bỏ đi, Zuniga xuất hiện. Giận dữ vì ghen tuông, José tấn công Zuniga. Những kẻ buôn lậu trở lại, ngăn họ ra và tạm thời nhốt Zuniga lại (“Bel officier”). José bấy giờ không có lựa chọn nào khác là phải .đào ngũ và gia nhập với những kẻ buôn lậu.
 
Màn 3. Một nhóm người cùng hàng lậu bước vào và tạm nghỉ trong lúc Dancaire và Remendado đi thăm dò đường mang hàng lậu vào thành phố. Carmen và José cãi vã và José chăm chăm nhìn xuống thung lũng nơi có mẹ anh đang sống. Carmen khuyên anh đi cùng cô. Những người phụ nữ lại mang bài ra bói vận may. Frasquita và Mercédès thấy trước những người tình galăng và giàu có nhưng quân bài của Carmen lại tiên đoán về cái chết của cô vá José. Cô chấp nhận lời tiên đoán đó (Card Song: “En vain pour éviter les réponses amères”). Remendado và Dancaïre trở lại thông báo rằng các nhân viên hải quan đang canh gác ở trạm: Carmen, Frasquita và Mercédès biết cách đối phó với họ (“Quant au douanier”). Tất cả khởi hành. Micaëla xuất hiện, cô được một người miền núi dẫn đến. Cô bảo rằng không sợ gì khi gặp mặt người đàn bà đã biến người đàn ông cô từng yêu thành một tên tội phạm (“Je dis que rien ne m’épouvante”). Song cô lại vội vã lánh đi khi nghe thấy một tiếng súng nổ. Đó là José bắn một kẻ xâm nhập, người trở ra là Escamillo, anh này đang chuyển bò về Seville (“Je suis Escamillo”). Khi anh này ám chỉ với anh lính rằng mình là người Carmen từng yêu thì chính José phát hiện ra và họ đánh nhau. Carmen và những kẻ buôn lậu trở lại can ngăn họ. Escamillo mời mọi người, đặc biệt là Carmen tới làm khách của mình trong trận đấu bò tới ở Seville. José đã cùng đường, Micaëla tìm thấy anh và cầu xin anh cùng mình trở về với mẹ nhưng anh giận dữ từ chối. (“Dût-il m’en couter la vie”). Rồi Micaëla lộ cho anh biết rằng mẹ anh sắp chết. José hứa với Carmen rằng họ sẽ gặp lại. Khi José và Micaëla rời đi, từ đằng xa có tiếng Escamillo đang hát.
Màn 4. Frasquita và Mercédès ở giữa đám đông náo nhiệt đang cổ vũ những dũng sĩ đấu bò (“Les voici! Les voici!”). Carmen lao vào vòng tay Escamillo (“Si tu m’aimes”). Frasquita và Mercédès cảnh cáo Carmen rằng José đang đứng giữa đám đông nhìn cô. Carmen bảo rằng cô không sợ. José bước vào. Anh cầu xin cô hãy quên đi quá khứ và cùng anh bắt đầu một cuộc đời mới. Cô bình thản nói rằng mọi chuyện giữa họ đã qua rồi. Cô sẽ không bao giờ nhượng bộ: cô sinh ra trong tự do và sẽ chết trong tự do. Trong lúc đám đông đang cổ vũ Escamillo, José cố gắng ngăn cản Carmen đến với người yêu mới (“C’est toi! C’est moi!…Carmen, il est temps encore“). Carmen cuối cùng đã mất bình tĩnh, cô tháo khỏi ngón tay mình chiếc nhẫn mà José từng trao cho cô và ném nó dưới chân anh. José đâm cô và rồi thú nhận mình giết người mình đã yêu.
Một số trích đoạn libretto
Habanera (“L’amour est un oiseau rebelle”)
Quand je vous aimerai?
Ma foi, je ne sais pas…
Peut-être jamais!.. peut-être demain!..
Mais pas aujourd’hui… c’est certain.
L’amour est un oiseau rebelle
que nul ne peut apprivoiser,
et c’est bien en vain qu’on l’appelle,
s’il lui convient de refuser!
Rien n’y fait, menace ou prière,
l’un parle bien, l’autre se tait;
et c’est l’autre que je préfère,
il n’a rien dit, mais il me plaît.
l’amour! l’amour! l’amour! l’amour!
L’amour est enfant de Bohême,
il n’a jamais, jamais connu de loi,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi!
(Si tu ne m’aimes pas,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime!
Mais si je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi! ) x2
L’oiseau que tu croyais surprendre
battit de l’aile et s’envola;
l’amour est loin, tu peux l’attendre,
tu ne l’attends plus, il est là.
Tout autour de toi, vite, vite,
il vient, s’en va, puis il revient;
tu crois le tenir, il t’évite,
tu crois l’éviter, il te tient!
l’amour! l’amour! l’amour! l’amour!
 
L’amour est enfant de Bohême,
il n’a jamais, jamais connu de loi,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi!
(Si tu ne m’aimes pas,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime!
Mais si je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi!) x2
Khi nào tôi sẽ yêu anh?
Thực tình, tôi chẳng biết…
Không bao giờ!… hoặc có thể ngày mai!…
Nhưng không phải hôm nay… chắc chắn.
Tình yêu là con chim bất trị
Chẳng ai thuần hóa được nó đâu,
và gọi nó cũng chỉ uổng công
nếu nó đã định tâm cự tuyệt!
Chẳng tác dụng gì, cầu xin hay dọa nạt,
Kẻ này nói nhiều, người nọ nín thinh;
Và chính người nọ tôi ưa hơn,
Chàng không nói, nhưng làm tôi vui thích.
Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu!
Tình yêu là đứa con dòng Bohême,
Nó chẳng đời nào, chẳng đời nào biết luật,
nếu anh không yêu tôi, tôi yêu anh,
nếu tôi yêu anh, hãy coi chừng!
Con chim mà anh tưởng bắt được
Đã vỗ cánh và đã bay đi;
Tình yêu ở xa, anh có thể chờ mong.
anh không còn chờ, kìa nó đó.
Chỉ quanh anh thôi, nhanh nhanh lên chứ,
nó đến, nó bay, rồi lại quay về
anh tưởng tóm được, nó lẩn rồi,
anh tưởng nó lẩn rồi, anh tóm được!
Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu!
Tình yêu là đứa con dòng Bôhême,
Nó chẳng đời nào, chẳng đời nào biết luật,
nếu anh không yêu tôi, tôi yêu anh,
nếu tôi yêu anh, hãy coi chừng!
La fleur que tu m’avais jetée
La fleur que tu m’avais jetée
dans ma prison m’était restée,
flétrie et sèche, cette fleur
gardait toujours sa douce odeur;
et pendant des heures entières,
sur mes yeux, fermant mes paupières,
de cette odeur je m’enivrais
et dans la nuit je te voyais!
Je me prenais à te maudire,
à te détester, à me dire:
pourquoi faut-il que le destin
l’ait mise là sur mon chemin!
Puis je m’accusais de blasphème,
et je ne sentais en moi-même,
je ne sentais qu’un seul désir,
un seul désir, un seul espoir:
te revoir, ô Carmen, oui, te revoir!
Car tu n’avais eu qu’à paraître,
qu’à jeter un regard sur moi,
pour t’emparer de tout mon être,
ô ma Carmen!
Et j’étais une chose à toi!
Carmen, je t’aime!
Bông hoa em đã ném tôi
Ở trong tù tôi gìn giữ,
Bông hoa này phai tàn khô héo
Vẫn giữ lại hương thơm ngọt ngào;
Và trong mọi thời khắc của mình.
Lúc tôi nhìn hay nhắm mắt,
Bông hoa này làm tôi ngây ngất
Và trong đêm tôi thấy được em!
Tôi nhủ mình phải nguyền rủa em,
Phải căm ghét em và tự vấn:
Tại sao mà số phận phải thế
Đặt nàng trên con đường của ta!
Rồi buộc tội mình báng bổ thần linh,
Và trong tôi chỉ còn cảm thấy
Chỉ cảm thấy một ước ao duy nhất
Chỉ một hi vọng, một ước ao :
Được gặp lại em, phải, Carmen ơi
Vì em đã chỉ hiện ra để ném
Chỉ để ném một ánh nhìn vào tôi
Để xâm chiếm cả bản thân tôi,
Ôi Carmen của tôi!
Và với em, tôi có một điều!
Carmen, tôi yêu em!
Oui! Là-bas, là-bas dans la montagne
Oui! Là-bas, là-bas dans la montagne!
là-bas, là-bas tu me suivrais!
Sur ton cheval tu me prendrais,
et comme un brave à travers la campagne,
en croupe, tu m’emporterais!
Là-bas, là-bas dans la montagne,
là-bas, là-bas tu me suivrais!
tu me suivrais, si tu m’aimais!
Tu n’y dépendrais de personne;
point d’officier à qui tu doives obéir,
et point de retraite qui sonne
pour dire à l’amoureux qu’il est temps de partir!
Le ciel ouvert, la vie errante,
pour pays l’univers, et pour loi ta volonté!
Et surtout la chose enivrante:
la liberté! la liberté!
Phải! Nơi đó, trong vùng núi đó!
Anh sẽ theo em tới nơi đó, anh ơi!
Hãy để em cùng lên yên ngựa,
Như một anh hùng, hãy vượt núi đồi,
Hãy mang em đi, nào, hãy ra roi!
Ở nơi đó, trong vùng núi đó!
Anh sẽ theo em tới nơi đó, anh ơi!
Anh sẽ theo em, nếu anh yêu em thật!
Tự do của anh nào có giới hạn đâu
Không có sĩ quan buộc anh tuân lệnh
Không ai dám bảo trái tim say đắm
Rằng đã đến giờ, anh phải biến đi rồi!
Cuộc đời tự do, bầu trời rộng mở
Luật lệ chỉ là ý muốn của anh thôi
Và có một điều khiến ta say hơn rượu
Là Tự do! Tự do! đang gọi mời.
Na9 & Nina (nhaccodien.info) dịch